Xin chào luật sư. Xin luật sư cho em hỏi một nội dung về luật hình sự ạ. Đối với trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm thì quyết định hình phạt như thế nào? Vấn đề này được quy định như thế nào trong hệ thống pháp luật hình sự? Rất mong nhận được giải đáp của luật sư. Xin chân thành cảm ơn! (Lê Huy - Tỉnh Khánh Hòa)

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật hình sự năm 1999

- Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

1. Tái phạm, tái phạm nguy hiểm là gì?

Tái phạm và tái phạm nguy hiểm được quy định cụ thể tại Điều 53 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Theo đó,

Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

+ Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

+ Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

Có thể thấy quy định về tái phạm và tái phạm nguy hiểm tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi) không có nhiều thay đổi về mặt ý nghĩa so với quy định tại Điều 49 Bộ luật hình sự năm 1999. Sự thay đổi cụ thể chính là thay thế cụm từ "phạm tội" chuyển thành cụm từ "thực hiện hành vi phạm tội".

2. Quyết định hình phạt là gì?

Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội cụ thể.

3. Lịch sử pháp luật về quyết định hình phạt đối với trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm

Vấn đề quyết định hình phạt đối với trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm đã từng được quy định khá sớm trong lịch sử pháp luật hình sự của nước ta. Trong luật hình An Nam thi hành ở Bắc Kỳ, quyết định hình phạt đôì vói tái phạm được quy định tại Điều 44: “Phàm người nào đã chịu hình trọng tội hay là khinh tội, sau khi đã mãn hạn rồi, trong năm năm mà lại phạm tội cũng như thế, thì phải chiếư theo cái hạn mãn lệ trong luật đã định mà xử, hay là có thể gia lên gấp hai.

Phàm người nào đã phạm tội vi cảnh mà trong mười hai tháng lại phạm tội vi cảnh, thì cũng cho là tái phạm”

Trong Luật hình giải nghĩa thi hành ở Nam Kỳ, quyết định hình phạt đối với trường hợp tái phạm được quy định chi tiết, cụ thể tại Điều 56: “Người nào trước bị phạt hình cực khổ, hay là nhục nhã, rồi sau tái phạm mà tội ấy phải bị phạt phê quyền dân, thì bị phạt đày ra khỏi xứ.

Nếu tội sau phải bị phạt đuổi ra khỏi xứ, thì sẽ phạt cầm cố, nếu tội sau phải bị phạt biệt giam, thì phải khổ sai hữu hạn.

Nêu tội sau phải bị phạt cầm cố, thì sẽ phạt nó đúng số cao trong tội ấy lại cùng đặng gia bội lên bằng hai.

Nếu tội tái phạm sau phải phạt khổ sai hữu hạn, thì sẽ phạt nó đúng số cao trong tội ấy; và cũng đặng gia bội lên bằng hai.

Nếu tội tái phạm sau phải đày quốc sự, thì sẽ phạt nó chung thân khổ sai.

Kẻ nào đã bị chung thân khổ sai, rồi sau tái phạm tội cũng phải chung thân khổ sai, thì phải phạt xử tử”

Quyết định hình phạt đối với trường hợp tái phạm cũng đã được quy định cụ thể tại Điều 57 Bộ hình luật Việt Nam xuất bản năm 1962 tại Sài Gòn: “Thuộc về đại hình, người nào hiện bị can cứu về một tội đại hình, mà trước ngày phạm tội ấy đã bị án xử một tội danh về đại hình, sẽ theo luật cho là tái phạm, mà phải xử gia đảng.

Những người bị tội đại hình theo luật cho là tái phạm, thời sẽ nghĩ xử tội danh như sau nầy:

+ Nếu đáng xử tội khổ sai chung thân, thòi sẽ xử tử hình;

+ Nếu đáng xử tội phát lưu, thời sẽ xử tội khổ sai chung thân hoặc tử hình;

+ Nếu đáng xử tội khổ sai có kỳ hạn, thời sẽ xử đến tội nặng hơn hết về hạng tội ấy, nếu tội nặng hơn hết ấy trước đã xử rồi, thời sẽ xử tội khổ sai chung thân;

+ Nếu đáng xử tội câu cấm, thời sẽ xử tội khổ sai mà niên hạn gấp đôi tội câu cấm ấy, nhưng không được vượt quá cái hạn về tội khổ sai có kỳ hạn;

+ Nếu đáng xử tội tỷ trí, thời sẽ xử tội câu cấm mà kỳ hạn gấp đôi tội tỷ trí ấy.

Thể lệ trên nầy như vậy, nhưng gặp những khoản đặc biệt mà luật đã định rõ, thời người tái phạm vẫn được giảm bốt tội”.

Đối với các trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm, thời kỳ trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời, các Tòa án đều coi tái phạm, nhất là tái phạm nguy hiểm là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nhưng do chưa có định nghĩa pháp lý chính thức của khái niệm tái phạm, tái phạm nguy hiểm, nên trong thực tiễn xét xử đã thống nhất thừa nhận những trường hợp sau là tái phạm: “Tái phạm là những kẻ trước kia đã bị kết án về một tội, nay phạm lại cũng tội ấy; là những kẻ mà tội phạm có cùng một khách thể loại (loại tội xâm phạm tài sản, loại tội xâm phạm tính mạng hay sức khỏe...) và cùng một tính chất cố ý hay vô ý; hoặc là những kẻ trước kia đã bị kết án về một tội nghiêm trọng, nay cũng lại phạm một tội nghiêm trọng, có thể cùng loại, mà cũng có thể khác loại như các tội giết người (mà trường hợp không thuộc khung giảm nhẹ), cướp của, các tội tham ô, cướp giật, trộm cắp... mà trường hợp phạm tội nằm ở các khung 2 và 3 của điều luật tương ứng v.v...

Đối với những tội nghiêm trọng chỉ cần tái phạm một lần là đã coi là tái phạm nguy hiểm. Đối với những tội ít nghiêm trọng hơn, tái phạm hai, ba lần trở lên mới coi là tái phạm nguy hiểm”.

Về đường lối xét xử: “Các Toà án đều coi tái phạm, nhất là tái phạm nguy hiểm là một tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên nếu bản án về tội trước đã quá lâu và trong một thời gian tương đối dài người bị kết án đã sống một cuộc đời lương thiện, thì không nên coi là tái phạm để tăng nặng khi lượng hình”.

Trong Bộ luật hình sự năm 1985, cũng như trong Bộ luật hình sự năm 1999 của nước ta, tái phạm, tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (quy định tại điểm i khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự năm 1985 và điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999). Ngoài ra, tái phạm, tái phạm nguy hiểm còn là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt đối với nhiều tội trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự. Trong mọi trường hợp khi tái phạm, tái phạm nguy hiểm không phải là dấu hiệu định tội hay định khung hình phạt, thì chúng được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong phạm vi chế tài quy định đối với tội đó. Thông thường chỉ có tái phạm chuyên biệt (tức là trường hợp người bị kết án phạm tội mới cùng nhóm, cùng tính chất hoặc cùng một tội với tội cũ) được quy định là tình tiết định khung tăng nặng của một số tội phạm. Ví dụ: Tái phạm tội trốn thuế là tình tiết định khung tăng nặng của tội trốn thuế (khoản 2 Điều 161 Bộ luật hình sự năm 1999). Tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung tăng nặng của 57 tội phạm khác nhau được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999 của nước ta (Tội giết người - điểm p khoản 1 Điều 93; Tội hiếp dâm - điếm i khoản 2 Điều 111 Bộ luật hình sự năm 1999...).

4. Quyết định hình phạt đối với tái phạm và tái phạm nguy hiểm trong bộ luật hình sự hiện hành

Quyết định hình phạt đối với tái phạm, tái phạm nguy hiểm được quy định ở các quy phạm Phần chung Bộ luật hình sự năm 1999 như: Điều 3 - Nguyên tắc xử lý; Điều 45 - Căn cứ quyết định hình phạt; Điều 48 - Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hoặc được quy định cụ thể ở các quy định về tội phạm (tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt đối với nhiều tội). Đường lối xử lý chung trong pháp luật hình sự nước ta là tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với những kẻ tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Cơ sở của việc tăng nặng này là dựa vào những đặc điểm về nhân thân người phạm tội, biểu hiện mức độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội nghiêm trọng của người tái phạm. Nhưng như vậy, không có nghĩa cơ sở xác định trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội tái phạm là những dấu hiệu của chủ thể thực hiện hành vi đó.

Luật hình sự Việt Nam hoàn toàn bác bỏ lý thuyết “thói quen phạm tội” của luật hình sự tư sản. Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Điều đó có nghĩa, chỉ khi nào một hành vi cấu thành tội phạm thực tế đã xảy ra, lúc đó mới có thể nói đến trách nhiệm hình sự và hình phạt. Bên cạnh đó, cần phải nhận thức rằng, mức độ và tính chất nguy hiểm cho xã hội của nhân thân kẻ phạm tội cũng được thể hiện một cách khách quan ngay trong hành vi phạm tội. Nhưng mối quan hệ giữa nhân thân người phạm tội và hành vi phạm tội không phải là đơn giản mà ngược lại rất phức tạp. Để xác định chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của kẻ phạm tội cần phải nghiên cứu quá khứ của người đó, nguyên nhân, động cơ phạm tội và những tình tiết khác thuộc về nhân thân kẻ phạm tội. Trên cơ sở tổng kết tất cả những tình tiết này, mới có thể xác định đúng đắn môì quan hệ giữa hành vi phạm tội với nhân thân kẻ phạm tội và khả năng giáo dục, cải tạo để từ đó có thể tiến hành cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt.

Việc căn cứ vào những đặc điểm thuộc về nhân thân kẻ phạm tội để cụ thể hóa mức trách nhiệm hình sự hoàn toàn không mâu thuẫn với nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật. Thực tiễn công tác xét xử ở nước ta đã khẳng định, việc xem xét đặc điểm nhân thân người phạm tội là rất cần thiết, vì Tòa án xét xử một vụ án cụ thể, cũng là xét xử những con người cụ thể. Hình phạt chỉ có thể được coi là công bằng, hợp lý, cũng như chỉ phát huy đầy đủ tác dụng khi nó tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của nhân thân người phạm tội. Như vậy, cơ sở để tăng trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm là đặc điểm nhân thân người phạm tội. Vấn đề được đặt ra là đặc điểm nhân thân kẻ phạm tội phản ánh tính chất nguy hiểm cho xã hội của người đó như thế nào?

Theo chúng tôi, nhiệm vụ của luật hình sự Việt Nam là bảo vệ các quan hệ xã hội xã hội chủ nghĩa, trong khi đó đặc điểm nhân thân kẻ phạm tội phản ánh tính chất nguy hiểm cho xã hội của người đó là ở chỗ, nó làm phát sinh khả năng xâm hại đến các quan hệ này. Đối với trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm, rõ ràng, tuy cùng xâm hại đến quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, nhưng hậu quả đốì với xã hội do kẻ tái phạm, tái phạm nguy hiểm gây ra nặng nề hơn so với người phạm tội lần đầu. Nếu đối với những người phạm tội lần đầu, có thể hy vọng vào khả năng tiếp thu, giáo dục, cải tạo của họ sau khi áp dụng trách nhiệm hình sự và hình phạt, còn đối với những kẻ tái phạm, nhất là tái phạm nguy hiểm, hy vọng vào khả năng giáo dục, cải tạo của họ giảm đi và khả năng tiếp tục phạm tội ở họ tăng lên. Vì vậy, đối với những kẻ tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phải áp dụng những biện pháp mạnh mẽ hơn mới đủ sức giáo dục, cải tạo họ, cũng như mới tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân họ. Việc luật hình sự Việt Nam quy định tái phạm, tái phạm nguy hiểm là một trong những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của hầu hết các tội phạm là cách giải quyết đúng đắn vấn đề cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với kẻ tái phạm, tái phạm nguy hiểm nhằm đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa của trách nhiệm hình sự cũng như hình phạt.

Tuy nhiên, những quy định của pháp luật hình sự đối với những kẻ tái phạm, tái phạm nguy hiểm chỉ mới dừng ở mức độ giới hạn khung hình phạt để Tòa án thực hiện cá thể hóa hình phạt đối với từng trường hợp cụ thể. Như vậy, hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tái phạm chẳng những phụ thuộc vào các quy định của pháp luật hình sự mà còn phụ thuộc rất nhiều vào công tác xét xử của Tòa án.

Đối với những trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm việc tăng nặng hình phạt là cần thiết, nhưng chỉ có thể ở giới hạn nhất định, vì hình phạt không phải là công cụ chủ yếu và toàn năng để phòng, chống tội phạm. Mặt khác, hình phạt, một khi được áp dụng nhiều lần đối với một người phạm tội, có thế gây ra phản ứng thích nghi về mặt tâm lý. Do đó, song song với việc áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cần thiết phải kết hợp đồng bộ với những biện pháp mang tính xã hội và những biện pháp giáo dục, cải tạo, phòng ngừa riêng đối với những kẻ tái phạm.

5. Vướng mắc trong thực tiễn quyết định hình phạt đối với tái phạm, tái phạm nguy hiểm

Thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử vấn đề quyết định hình phạt đối với tái phạm, tái phạm nguy hiểm cho thấy, vướng mắc chủ yếu của các Tòa án chính là vấn đề xác định tái phạm hay tái phạm nguy hiểm.

Ví dụ: bị cáo Nguyễn Văn T đã bị các Tòa án xét xử nhiều lần, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất, ngày 9-11-1992, T bị Tòa án nhân dân quận HK, thành phô' HN xử phạt 6 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản của công dân, bị cáo chấp hành án xong ngày 8-5-1993.

Lần thứ hai, ngày 23-5-1995, T lại bị Tòa án nhân dân quận ĐĐ, thành phô' HN xử phạt 15 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản của công dân, bị cáo chấp hành án xong ngày 22-8-1996.

Lần thứ ba, ngày 15-11-1996, T bị Tòa án nhân dân thành phô' HN xử phạt 30 tháng tù giam yề tội trộm cắp tài sản của công dân. BỊ cáo chịu tình tiết tăng nặng định khung hình phạt là tái phạm nguy hiểm theo điểm b khoản 2 Điều 40 Bộ luật hình sự năm 1985. Bị cáo chấp hành án xong ngày 14-5-1999.

Lần thứ tư, ngày 13-4-2000, T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của công dân (giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 815.000 đồng).

Vấn đề đặt ra ở đây là khi xét xử hành vi thứ tư, thì Tòa án áp dụng tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt hay chỉ áp dụng tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Có hai quan điểm về vấn đề này:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, khi bị xét xử hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của công dân lần thứ tư ngày 13-4-2000, bị cáo T phải chịu tình tiết tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt theo điểm d khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1985.

Quan điểm thứ hai cho rằng, áp dụng Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21-12-1999, thì khi xét xử bị cáo lần thứ tư này chỉ cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm.

Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ nhất, bởi lẽ lần thứ hai phạm tội, bị cáo T đã bị Tòa án nhân dân áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm, do đó lần thứ ba phạm tội, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố HN áp dụng tình tiết tăng nặng định khung hình phạt là tái phạm nguy hiểm theo điểm d khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1985 là đúng. Như vậy, bị cáo đã tái phạm nguy hiểm (lần thứ ba) chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội lần thứ tư, thì khi xét xử lần thứ tư, Tòa án cần áp dụng tình tiết tăng nặng định khung hình phạt là tái phạm nguy hiểm.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung "Quyết định hình phạt trong trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm như thế nào?" Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập