1. Nhãn hiệu
Nhãn hiệu là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.
Dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu phải là những dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình ảnh, hình vẽ hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.
2. Rủi ro khi doanh nghiệp không đăng ký bảo hộ thương hiệu nước ngoài
- Không làm chủ thương hiệu của mình
Luật sở hữu trí tuệ quy định về tính độc quyền của chủ nhãn hiệu đối với nhãn hiệu đăng ký. Nếu không đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, doanh nghiệp của bạn không được cấp phép độc quyền sở hữu, sử dụng nhãn hiệu. Một khi tài sản thương hiệu ngày càng gia tăng thì việc không làm chủ sở hữu thương hiệu trở nên cực kỳ nguy hiểm, đặc biệt khi có khả năng mất trắng thương hiệu vào tay kẻ khác nếu người đó dùng chính thương hiệu của bạn đi đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Căn cứ theo quy định tại Điều 125 Luật sở hữu trí tuệ 2005 về quyền ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu. Theo đó, nếu chủ sở hữu không được cấp văn bằng bảo hộ sẽ gặp khó khăn trong việc cấm người khác sử dụng nhãn hiệu của mình. Nhãn hiệu bị đơn vị khác đăng ký bảo hộ đồng nghĩa với việc không những không giữ được thị trường kinh doanh mà còn có khả năng bị rủi ro về kiện tụng, tranh chấp nhãn hiệu giữa các bên.
- Bị làm giả, làm nhái nhãn hiệu
Hiện tượng làm hàng nhái hàng giả trở lên phổ biến trong một thị trường cạnh tranh và đa dạng. Nhiều doanh nghiệp đã thường xuyên phải đấu tranh với hiện tượng này. Một trong những công cụ đấu tranh hiệu quả nhất với hàng nhái, hàng giả đó là sử dụng công cụ pháp lý có được từ việc đăng ký nhãn hiệu hàng hoá. Khi đã đăng ký thương hiệu, nếu có tranh chấp xảy ra, công ty của bạn sẽ được chính nhà nước và pháp luật bảo vệ nếu bạn đã đăng ký nhãn hiệu.
- Thiệt hại khi tranh chấp xảy ra
Khi tranh chấp về nhãn hiệu xảy ra, cơ sở pháp lý mạnh nhất mà doanh nghiệp có thể sử dụng đó là quyền sở hữu về nhãn hiệu. Như đã nói ở trên, việc đảm bảo quyền lợi và lợi ích của thương hiệu chỉ có thể thực hiện được nếu có sự đăng ký bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Người tiêu dùng thiếu sự tin tưởng
Nhãn hiệu đã được đăng ký độc quyền là dấu hiệu đảm bảo lòng tin cho người tiêu dùng. Dấu hiệu này vừa đảm bảo cho người tiêu dùng an tâm về trách nhiệm của doanh nghiệp vừa giúp phân biệt chống hàng giả, hàng nhái.
- Khó truyền thông thương hiệu
Toàn bộ các hoạt động truyền thông thương hiệu của bạn sẽ không thể hiệu quả nếu doanh nghiệp không sở hữu thương hiệu.
- Nguy cơ mất thị trường
Rất nhiều thị trường uy tín trên thế giới như Nhật, EU, Mỹ … không cho phép nhập khẩu các sản phẩm dán nhãn hiệu chưa được đăng ký bảo hộ. Dưới tác động của việc gia nhập các liên minh kinh tế của Việt Nam, các điều kiện về bảo hộ thương hiệu càng trở lên ngặt nghèo. Vì vậy, không đăng ký bảo hộ nhãn hiệu đồng nghĩa với nguy cơ lớn đánh mất thị trường.
- Nguy cơ bị mất nhãn hiệu
Đây là nguy cơ hàng đầu đối với doanh nghiệp. Thương hiệu – tài sản của doanh nghiệp có thể được gây dựng với rất nhiều tâm huyết, nguồn lực … có thể nhanh chóng bị rơi vào tay người khác nếu doanh nghiệp chưa bảo hộ thương hiệu của mình. Ngoài ra, có thể mất quyền đăng ký nhãn hiệu theo khoản 14 Điều 1 Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009 thì văn bằng bảo hộ được cấp cho người nộp đơn hợp lệ và có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất. Theo đó, chủ sở hữu nhãn hiệu có thể mất quyền đăng ký nhãn hiệu của mình do người khác đăng ký trước theo nguyên tắc trên.
3. Làm gì để bảo vệ nhãn hiệu khi vươn ra thị trường quốc tế?
- Đăng ký trực tiếp nhãn hiệu của mình với Cơ quan Sở hữu trí tuệ của từng quốc gia; hoặc
- Dựa vào đơn gốc/văn bằng gốc đã nộp/đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam để nộp đơn đăng ký nhãn hiệu, qua Cục SHTT, chỉ định cùng một lúc nhiều quốc gia là thành viên của Nghị định thư Madrid và thỏa ước Madrid (sau đây gọi chung là hệ thống Madrid) (tính đến thời điểm hiện tại có 97 quốc gia là thành viên của Nghị định thư Madrid và 55 quốc gia là thành viên của thỏa ước Madrid).
4. Những lưu ý ngoài việc đăng ký nhãn hiệu tại các quốc gia
- Không phải quốc gia nào cũng áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên giống như Việt Nam (hay còn gọi là “first-to-file” - cá nhân/pháp nhân nào nộp đơn đăng ký nhãn hiệu trước thì có quyền ưu tiên trước). Hay nói cách khác, có một số quốc gia áp dụng nguyên tắc sử dụng đầu tiên (“first-to-use” - cá nhân/pháp nhân nào sử dụng nhãn hiệu trước thì có quyền ưu tiên trước) nên doanh nghiệp cần phải lưu trữ tất cả các bằng chứng sử dụng nhãn hiệu của mình tại nước ngoài một cách cụ thể từ ngày/tháng/năm và chứng cứ sử dụng (như mẫu bao bì có ngày tháng năm, kết quả doanh thu/doanh số, invoices có ngày tháng năm, hóa đơn có ngày tháng năm, chứng từ, mẫu quảng cáo có ngày tháng năm, thư từ liên hệ với khách hàng…) để có thể dùng làm bằng chứng sử dụng nhãn hiệu trong thương mại bất kể khi nào cần đến, đặc biệt là khi xảy ra tranh chấp, khiếu kiện;
- Tìm hiểu thị trường nước ngoài thường xuyên hoặc qua luật sư Sở hữu trí tuệ để kiểm tra về việc nhãn hiệu của mình có bị bên khác đăng ký hoặc xâm chiếm tại các quốc gia khác hay không để có biện pháp xử lý kịp thời;
- Khi nhãn hiệu của mình đã được đăng ký tại nước ngoài, theo quy định của một số quốc gia, chủ sở hữu cần phải nộp Tuyên bố về việc sử dụng nhãn hiệu của mình sau một số năm kể từ khi đăng ký, ví dụ như ở Mỹ thì chủ sở hữu cần phải nộp Tuyên bố sử dụng nhãn hiệu hai lần kể từ ngày đăng ký, lần thứ nhất là trong năm thứ 5 đến năm thứ 6 và lần thứ hai là trong năm thứ 9 đến năm thứ 10 cùng với yêu cầu gia hạn nhãn hiệu. Tại Mỹ, nếu chủ sở hữu không nộp Tuyên bố sử dụng đúng thời hạn thì đăng ký nhãn hiệu sẽ bị hủy bởi Cơ quan có thẩm quyền. Do đó, chủ sở hữu rất cần phải lưu ý vấn đề này để bảo vệ quyền lợi của mình;
- Trong các hợp đồng thương mại, các doanh nghiệp cần phải đưa các điều khoản liên quan đến nhãn hiệu/thương hiệu vào trong các điều khoản để tránh việc các công ty liên kết, đối tác kinh doanh, đại lý… lạm dụng đăng ký dẫn đến việc “mất” thương hiệu của mình tại nước ngoài. Thực tế các doanh nghiệp Việt Nam đã “mất” nhãn hiệu/thương hiệu của mình theo cách này đã xảy ra khá phổ biến tại Việt Nam và nhiều quốc gia khác trên thế giới;
- Cần phải có những quy định rõ ràng về quyền sở hữu nhãn hiệu, quyền đăng ký/sử dụng nhãn hiệu trong mối quan hệ giữa các công ty mẹ, công ty con hoặc giữa các công ty trong cùng một tập đoàn…
- Nói tóm lại, trong mọi trường hợp, việc đăng ký nhãn hiệu tại nước ngoài, nơi nhãn hiệu của doanh nghiệp có/dự định sử dụng là một việc rất quan trọng, và là bước cần tiến hành đầu tiên khi doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng thị trường của mình ra nước ngoài. Chỉ một bước đi và tính toán không chính xác có thể dẫn đến thiệt hại về kinh tế hoặc gây bất lợi cho tình hình kinh doanh của doanh nghiệp tại nước ngoài.
5. Làm gì khi quyền sở hữu trí tuệ của mình bị xâm phạm
6. Bài học rút ra:
- Các doanh nghiệp cần tiến hành đăng ký nhãn hiệu độc quyền của mình ở thị trường nước ngoài ngay khi có kế hoạch mở rộng thị trường sang nước khác hay ngay khi nhận biết được sự phổ biến của thương hiệu của mình ở thị trường trong nước. Và hạn chế hành vi xâm phạm nhãn hiệu của mình.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần thận trọng và kỹ lưỡng trong việc quản trị mối quan hệ với đối tác khi xuất khẩu sản phẩm. để đảm bảo tối đa quyền lợi của các bên.
Đặc biệt hơn nữa, để nắm bắt được các quy định pháp lý ở các nước thị trường,doanh nghiệp Việt nên tìm kiếm các đối tác pháp lý uy tín hỗ trợ việc bảo hộ thương hiệu của mình tại thị trường nước ngoài.
Doanh nghiệp Việt trên con đường chinh phục thị trường nước ngoài, bên cạnh việc chuẩn bị kỹ lưỡng về vấn đề chất lượng hàng hóa, dịch vụ, thì vấn đề thiết lập cơ chế bảo hộ nhãn hiệu của mình là điều cần nghiêm túc để đầu tư.