1. Xử lý việc bị sa thải và ép ký vào đơn xin nghỉ việc?
>> Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900.6162
Luật sư tư vấn:
Hiện nay, công ty đã sa thải mấy chục người, nhưng công ty không gửi quyết định sa thải mà bắt mọi người kí vào đơn xin nghỉ việc với lý do bận việc nhà.
Căn cứ Điều 125 Bộ luật lao động năm 2019 Các trường hợp người lao động bị sa thải:
"Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong trường hợp sau đây:
1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc;
2. Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;
3. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này;
4. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.
Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động."
Theo như những cung cấp của bạn thì bạn không thuộc trường hợp bị sa thải của pháp luật.
Công ty bạn đã có hành vi trá hình đó là không gửi quyết định sa thải mà bắt mọi người kí vào đơn xin nghỉ việc với lý do bận việc nhà. Đây là hành vi trái pháp luật, xâm phạm quyền được lao động của người lao động. Mặt khác công ty còn có hành vi hù họa người lao đông để ép học ký vào đơn xin nghỉ việc.
Căn cứ Điều 5 Bộ luật lao động năm 2019: Làm việc; tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp; không bị phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, quấy rối tình dục tại nơi làm việc.
Ngoài ra căn cứ Điều 8 Luật Lao động năm 2019 : Những hành vi bị cấm đối với người sử dụng lao động đó là cưỡng bức người lao động hay nói cách khác đó là ép buộc người lao động. Như vậy, việc cho người lao động nghỉ việc của công ty đó là trái với quy định của pháp luật.
Như vậy, trong trường hợp của bạn giờ bạn có thể khiếu nại công ty của mình căn cứ theo Điều 131 Bộ luật lao động 2019:
"Điều 131. Khiếu nại về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất
Người bị xử lý kỷ luật lao động, bị tạm đình chỉ công việc hoặc phải bồi thường theo chế độ trách nhiệm vật chất nếu thấy không thỏa đáng có quyền khiếu nại với người sử dụng lao động, với cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo trình tự do pháp luật quy định."
Nếu công ty không giải quyết cho bạn thì bạn có thể yêu cầu hoà giải viên lao động, Hội đồng trọng tài lao động hoặc khởi kiện ra Toà án cấp huyện để giải quyết.
Một vấn đề nữa bạn hỏi là chi phí công đoàn đi đâu?. Căn cứ vào Điều 27 Luật công đoàn năm 2012
"Điều 27. Quản lý, sử dụng tài chính công đoàn
1. Công đoàn thực hiện quản lý, sử dụng tài chính công đoàn theo quy định của pháp luật và quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
2. Tài chính công đoàn được sử dụng cho hoạt động thực hiện quyền, trách nhiệm của Công đoàn và duy trì hoạt động của hệ thống công đoàn, bao gồm các nhiệm vụ sau đây:
a) Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động;
b) Tổ chức hoạt động đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động;
c) Phát triển đoàn viên công đoàn, thành lập công đoàn cơ sở, xây dựng công đoàn vững mạnh;
d) Tổ chức phong trào thi đua do Công đoàn phát động;
đ) Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn; đào tạo, bồi dưỡng người lao động ưu tú tạo nguồn cán bộ cho Đảng, Nhà nước và tổ chức công đoàn;
e) Tổ chức hoạt động văn hoá, thể thao, du lịch cho người lao động;
g) Tổ chức hoạt động về giới và bình đẳng giới;
h) Thăm hỏi, trợ cấp cho đoàn viên công đoàn và người lao động khi ốm đau, thai sản, hoạn nạn, khó khăn; tổ chức hoạt động chăm lo khác cho người lao động;
i) Động viên, khen thưởng người lao động, con của người lao động có thành tích trong học tập, công tác;
k) Trả lương cho cán bộ công đoàn chuyên trách, phụ cấp trách nhiệm cho cán bộ công đoàn không chuyên trách;
l) Chi cho hoạt động của bộ máy công đoàn các cấp;
m) Các nhiệm vụ chi khác."
Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.
2. Hậu quả pháp lý khi sa thải người lao động trái luật?
Trả lời:
Người sử dụng lao động có quyền sa thải người lao động trong các trường hợp sau:
1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc;
2. Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;
3. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này;
4. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng. Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.
Ngoài ra, cần lưu ý rằng không được lấy lý do vì lao động nữ kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi để sa thải người lao động và không được tiến hành xử lý kỷ luật lao động sa thải đối với người lao động đang trong thời gian sau đây:
- Nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động.
- Đang bị tạm giữ, tạm giam
- Đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động.
- Lao động nữ có thai, nghỉ thai sản, nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.
Thời hiệu xử lý kỷ luật sa thải
Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động là thời hạn người sử dụng lao động được quyền xử lý kỷ luật người lao động, hết thời hạn này, người sử dụng lao động không được quyền xử lý kỷ luật người lao động. Theo quy định hiện hành, thời hiệu xử lý kỷ luật sa thải là 06 tháng kể từ ngày xảy ra hành vi vi phạm, nếu vi phạm liên quan trực tiếp đến tài chính, tài sản, tiết lộ bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh thì khoản thời hạn này là 12 tháng. Khi trong thời hiệu xử lý kỷ luật nhưng người sử dụng lao động không thể thực hiện kỷ luật được vì các lí do: Người lao động đang trong thời gian nghỉ ốm đau, điều dưỡng, người lao độngnghỉ việc được sự đồng ý của Nngười sử dụng lao động, người lao động đang bị tạm giữ, tạm giam; Người lao động đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm; thì thời hiệu xử lý kỷ luật sa thải sẽ được gia hạn thêm tối đa 60 ngày kể từ ngày các sự kiện này chấm dứt.
Trình tự, thủ tục sa thải người lao động
Việc sa thải người lao động phải tuân thủ các quy định về trường hợp được phép sa thải, thời hiệu xử lý kỷ luật sa thải và trình tự, thủ tục sa thải, vi phạm một trong các điều kiện này thì việc sa thải người lao động được xem là trái luật. Hậu quả pháp lý của việc sa thải trái luật là:
- Người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động
- Nếu người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản Tiền bồi thường người sử dụng lao động còn phải trả trợ cấp thôi việc
- Nếu người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản Tiền bồi thường và trợ cấp thôi việc thì người sử dụng lao động phải bồi thường thêm một khoản tiền cho người lao động theo thỏa thuận giữa hai bên nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động
- Nếu không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản Tiền bồi thường, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
Ngoài ra, theo quy định của pháp luật thời hạn người lao động có quyền khởi kiện ra Toà án khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm do việc sa thải trái luật của người sử dụng lao động là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi vi phạm. Trong thực tế rất nhiều trường hợp, người lao động không khởi kiện ngay mà đợi đến gần hết thời hạn này mới khởi kiện, nếu người sử dụng lao động thua kiện, người sử dụng lao động phải bồi thường cho người lao động một số tiền lên đến hàng chục tháng tiền lương cho khoảng thời gian người lao động không được làm việc. Đặc biệt kể từ ngày 01/7/2016, khi Bộ luật Hình sự 2015 có hiệu lực, người sử dụng lao động sa thải người lao động trái luật còn có khả năng chịu chế tài phạt tù, do đó doanh nghiệp cần quan tâm đến các cơ sở pháp lý khi sa thải người lao động, tránh những thiệt hại do việc sa thải trái pháp luật gây ra.
Theo nội dung được quy định Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2018, người sử dụng lao động sẽ phạt tù đến 3 năm nếu sa thải lao động trái pháp luật.
Cụ thể tại khoản 1 và khoản 2 Điều 162 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà thực hiện một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Ra quyết định buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức, viên chức;
b) Sa thải trái pháp luật đối với người lao động;
c) Cưỡng ép, đe dọa buộc công chức, viên chức, người lao động phải thôi việc.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Đối với 02 người trở lên;
b) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;
c) Đối với người đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi;
d) Làm người bị buộc thôi việc, người bị sa thải tự sát;
đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng khác”.
Hãy liên hệ ngay với Công Ty Luật Minh Khuê thông qua tổng dài tư vấn luật miễn phí 1900.6162 để nhận được mọi giải đáp một cách nhanh chóng và chính xác nhất.
3. Sa thải nhân viên trái luật nhằm không trả thưởng cuối năm?
Trả lời:
Một người lao động được coi là sa thải hợp pháp khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, có hành vi vi phạm và chịu hình thức xử lý sa thải theo quy định tại điều 125 - Bộ luật lao động năm 2019:
"1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc;
2. Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;
3. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này;
4. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.
Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động."
Thứ hai, phải tiến hành đúng trình tự xử lý kỷ luật lao động: sau khi xác định hành vi của người lao động thuộc một trong các trường hợp sa thải theo đúng quy định của pháp luật ,sau đó công ty muốn sử lý kỉ luật sa thải bạn sẽ phải tiến hành họp để xét kỉ luật sa thải bạn. Trong cuộc họp đó sẽ có sự tham gia của đại diện công ty, đại diện công đoàn theo trình tự thủ tục quy định tại Điều 122 về Nguyên tắc, trình tự xử lý kỷ luật lao động – Bộ Luật lao động năm 2019.
Thứ ba, còn thời hiệu xử lý kỷ luật lao động, quy định cụ thể tại Điều 123 – Bộ Luật lao động năm 2019. Thời hiệu tối đa là 6 tháng, kể từ ngày xảy ra hành vi vi phạm. Khi hết thời hiệu xử lý thì điều kiện sa thải không đủ để tiến hành xa thải một lao động.
Như vậy, căn cứ vào những điều trên thì thì quyết định sa thải anh A của công ty bạn là sai so với quy định của pháp luật. Vì anh A đúng có có hành vi xô xát nhưng thương tích không có thì không được gọi là hành vi cố ý gây thương tích được. Ngoài ra anh A không vi phạm gì cả nên không có căn cứ để sa thải A.
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ 1900.6162 để được giải đáp.
4. Đuổi việc bà bầu trái luật phải bồi thường thế nào?
Nghỉ phép dưỡng thai, bị đuổi việc
Theo đơn khởi kiện, chị Hải vào làm công nhân ở Công ty K. từ tháng 3-2004, có ký hợp đồng ngắn hạn một năm. Tháng 8-2006, chị được công ty ký hợp đồng không thời hạn với mức lương gần 1,2 triệu đồng/tháng (không có phụ cấp).
Đến tháng 4-2008, lấy lý do chị Hải tự ý bỏ việc, Công ty K. đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với chị. Tuy nhiên, theo chị Hải, vào thời điểm đó chị đang mang bầu gần bốn tháng, do thai yếu nên có chỉ định của bác sĩ cho phép nghỉ dưỡng thai. Công ty K. đã nại lý do sai sự thật để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái phái luật, không báo trước cho chị biết. Sau khi bị cho thôi việc, chị Hải đã gửi đơn nhờ công đoàn giải quyết nhưng không hề nhận được câu trả lời nào.
Bất bình, chị Hải đã khởi kiện, yêu cầu Công ty K. bồi thường 11,5 tháng lương (tính từ lúc bị chấm dứt hợp đồng lao động đến ngày xét xử sơ thẩm). Ngoài ra, chị còn yêu cầu công ty bồi thường sáu tháng tiền nghỉ thai sản và hỗ trợ giấy tờ để làm thủ tục hưởng chế độ thai sản theo quy định về bảo hiểm xã hội.
>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động qua điện thoại (24/7) gọi: 1900.6162
Công ty phải bồi thường
Trong quá trình hòa giải, Công ty K. đồng ý nhận chị Hải trở lại làm việc và bồi thường hai tháng lương nhưng chị Hải không chấp nhận.
Tại phiên xử vừa qua, chị Hải giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện, chỉ rút lại phần đòi bồi thường sáu tháng tiền nghỉ thai sản. Đại diện Công ty K. cho rằng chị Hải thường nghỉ việc không xin phép hoặc xin phép miệng, sau đó tự bỏ việc luôn. Như vậy chị Hải đã vi phạm kỷ luật và thỏa ước lao động nên công ty cho chị thôi việc, không giải quyết tiền lương cùng các chế độ khác. Đại diện công ty còn đòi chị Hải bồi thường ngược lại cho công ty hai tháng lương do lỗi vi phạm của mình.
Tòa nhận định việc chị Hải tự ý nghỉ không xin phép như lời đại diện Công ty K. là vi phạm nội quy lao động. Tuy nhiên, công ty không lập biên bản xử lý kỷ luật theo luật mà đã vội vàng ra quyết định cho chị thôi việc. Ngoài ra, trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, công ty không báo trước 45 ngày. Công ty cũng không trao đổi với ban chấp hành công đoàn cơ sở.
Theo tòa, quyết định buộc thôi việc của Công ty K. vi phạm về mặt hình thức, trái pháp luật. Tòa buộc Công ty K. thanh toán 11,5 tháng lương trong những ngày chị Hải không được làm việc và tiền trợ cấp thôi việc cho chị Hải theo thâm niên bốn năm (mỗi năm nửa tháng lương). Tổng cộng công ty phải trả cho chị Hải gần 18 triệu đồng. Mặt khác, Công ty K. còn có trách nhiệm hỗ trợ về mặt thủ tục cho chị Hải làm hồ sơ hưởng chế độ bảo hiểm khi nghỉ thai sản theo quy định.
- Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng. Trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải trao đổi, nhất trí với ban chấp hành công đoàn cơ sở… Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (trừ trường hợp người lao động bị sa thải vì trộm cắp, tham ô, tự ý bỏ việc bảy ngày trong một tháng hoặc 20 ngày trong một năm…), người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
- Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động nữ vì lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động.