1. Giới thiệu tác giả

Sách Sổ tay Thẩm phán doThạc sỹ Lê Hồng Hải biên soạn.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Sổ tay Thẩm phán của ThS Lê Hồng Hải

Sổ tay Thẩm phán

Tác giả: Thạc sỹ Lê Hồng Hải

Nhà xuất bản Hồng Đức

Xuất bản năm 2017

Giá bìa: 350.000 đồng

3. Tổng quan nội dung sách

Lời mở đầu cuốn sách có viết như sau:

"Sổ Tay Thẩm Phán đã phát huy hiệu quả trong việc trợ giúp các Thẩm phán trong công tác xét xử hàng ngày. Trong những năm qua, Sổ tay Thẩm phán là tài liệu tham khảo thường xuyên của các Thẩm phán và đã góp phần nâng cao kỹ năng xét xử của các Thẩm phán, đặc biệt là các Thẩm phán mới được bổ nhiệm.

Có nhiều văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành và có những văn bản quy phạm pháp luật rất quan trọng trong hoạt động xét xử tại Tòa án. Mặt khác, trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) từ ngày 11 tháng 01 năm 2007 và trở thành thành viên của nhiều Công ước, điều ước quốc tế song phương và đa phương, do vậy việc nâng cao năng lực xét xử của các Thẩm phán là việc làm cần thiết.

SỔ TAY THẨM PHÁN là cuốn sách kim chỉ nam không thể thiếu của mỗi Thẩm phán. Cuốn sách giúp nâng cao kỹ năng nghiệp vụ nghề nghiệp của Thẩm phán."

Thẩm phán là ai? Thẩm phán còn gọi là quan tòa là người thực hiện quyền xét xử chính tại một phiên tòa, có thể là chủ tọa một mình hoặc là một thành phần trong hội đồng xét xử gồm nhiều Thẩm phán. Các quốc gia khác nhau thì cũng có các quy định khác nhau về quyền hạn, chức năng, cách thức bổ nhiệm, kỷ luật, và đào tạo thẩm phán.

Với vai trò và trách nhiệm của mình, Thẩm phán phải nắm vững các thuộc tính của chứng cứ, đồng thời xác định chính xác yêu cầu của đương sự (yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan), quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp trong vụ án, những vấn đề cần phải chứng minh, các chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án và các chứng cứ đang được lưu giữ ở đâu, nghĩa vụ chứng minh của đương sự, quy phạm pháp luật nội dung để có thể đưa ra những phán quyết hợp lý, công bằng tránh oan sai.

Bên cạnh đó, người Thẩm phán không chỉ nắm vững các kiến thức pháp luật chuyên ngành cũng như liên quan và còn phải luôn luôn cập cập nhật những kiến thức pháp luật mới được ban hành.

Nội dung cuốn sách được tác giải biện soạn gồm có 4 phần:

Phần 1. Vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân, thẩm phán và việc nâng cao kỹ nang nghề nghiệp của Thẩm phán

  1. Vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân theo pháp luật
  2. Một số quy định của pháp luật về Thẩm phán Tòa án nhân dân
  3. Nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của Thẩm phán

Phần 2. Nguyên tắc áp dụng pháp luật và những quy định của luật pháp về việc yêu cầu đổi thẩm phán

  1. Nguyên tắc áp dụng pháp luật
  2. Quy định của luật pháp về việc yêu cầu đổi thẩm phán

Phần 3. Án lệ - Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong hoạt động xét xử

  1. Tìm hiểu về án lệ
  2. Các án lệ đã công bố

Phần 4. Các Nghị quyết, quyết định, thông tư quan trọng liên quan công tác xét xử tòa án

1. Các nghị quyết do Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao ban hành

  • Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
  • Nghị quyết 333/2017/UBTVQH14 Ban hành quy chế phối hợp giữa Tòa án nhân dân tối cao và Bộ quốc phòng trong việc quản lý các Tòa án quân sự về tổ chức
  • Nghị quyết 01/2016/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định của nghị quyết 103/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết s104/2015/QH12 về việc thi Hành Luật tố tụng hành chính
  • Nghị quyết 03/2016/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật phá sản
  • Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Luật tố tụng hành chính 2015 về gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử
  • Nghị quyết 03/2017/NQ-HĐTP về việc công bố bản án, quyết định trên cổng thông tin điện tử của Tòa án
  • Nghị quyết 04/NQ-HĐTP hướng dẫn một số quy định quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án

2. Những quyết định của Tòa án nhân dân tối cao trong việc thực hiện chỉ thị 35-CT/TW và một số công tác khác

  • Quyết định 743/QĐ-TANDTC Ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 35 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng dối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo
  • Quyết định 346A/2017/QĐ-TANDTC Ban hành quy định về tổ chức Lễ công bố quyết định bổ nhiệm Thẩm phán và chức vụ lãnh đạo, quản lý trong Tòa án nhân dân
  • Quyết định 663/QĐ-TANDTC về số lượng lãnh đạo, quản lý cấp phó đối với Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương.

3. Thông tư của Bộ Tư pháp, Bộ quốc phòng liên quan đến việc thi hành án

  • Thông tư 01/2017/TT-BTP Quản lý kho vật chứng, tài sản tạm giữ trong thi hành án dân sự
  • Thông tư 50/2017/TT-BQP Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của Cục thi hành án Bộ quốc phòng và Phòng thi hành án cấp quân khu
  • Thông tư 03/2017/TT-BTP Quy định chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chuyên ngành Thi hành án dân sự

..............

Một số quy định pháp luật về Thẩm phán theo quy định tại Luật tổ chức tòa án, mời bạn đọc tham khảo:

Thẩm phán là chức danh xét xử chuyên nghiệp và là công chức của nhà nước. Trong hội đồng xét xử, thẩm phán được coi là chuyên gia có trình độ chuyên môn cao về pháp luật. Thẩm phán đóng vai trò chính “gánh vác” chức năng xét xử của tòa án. Trong khi hội thẩm chỉ xuất hiện trong hội đồng xét xử sơ thẩm thì thẩm phán xuất hiện trong tất cả các hội đồng xét xử. Có thể nói, thẩm phán là sự hiện diện của nhà nước trong việc thực hiện chức năng xét xử. Đặc điểm và yêu cầu nổi bật đối với thẩm phán là phải có trình độ chuyên môn cao về pháp luật.

Hiện tại làm việc trong hệ thống tòa án có hàng nghìn thẩm phán được chia thành 4 ngạch xếp theo phẩm cấp từ trên xuống dưới gồm: Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thẩm phán cao cấp, thẩm phán trung cấp và thẩm phán sơ cấp. Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chỉ làm việc ở Tòa án nhân dân tối cao. Thẩm phán cao cấp có thể làm việc ở Tòa án dân dân các cấp và tòa án nhân dân cấp tỉnh. Thẩm phán trung cấp có thể làm việc ở tòa án nhân dân cấp tỉnh, tòa án nhân dân cấp huyện, tòa án quân sự cấp quân khu và tòa án quân sự khu vực. Thẩm phán sơ cấp có thể làm việc ở Tòa án nhân dân tối cao và tòa án quân sự cấp quân khu, tòa án nhân dân cấp huyện và các tòa án quân sự khu vực. Tất cả các thẩm phán của Việt Nam hiện nay đều làm việc theo nhiệm kì, theo đó khi bổ nhiệm lần đầu tiên thẩm phán có nhiệm kì 5 năm và các nhiệm kì tiếp theo có nhiệm kì 10 năm (Theo Điều 66 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014, Điều 74 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014).

Tiêu chuẩn để trở thành thẩm phán bao gồm tiêu chuẩn chung áp dụng đối với mọi ngạch thẩm phán và tiêu chuẩn riêng áp dụng đối với từng ngạch thẩm phán. Các tiêu chuẩn chung để trở thành thẩm phán bao (Theo Điều 67 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014) gồm:

- Các tiêu chuẩn về nhân thân - đạo đức: là công dân Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần bảo vệ công lí, liêm khiết, trung thực, có sức khỏe.

- Các tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn: có trình độ chuyên môn luật trở lên, đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử, tức là có chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ xét xử, có thời gian công tác thực tiễn pháp luật.

Các tiêu chuẩn riêng đối với từng ngạch thẩm phán chủ yếu thể hiện sự khác biệt về thâm niên và năng lực (Theo khoản 1-5 Điều 68, khoản 1 Điều 69 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014), bao gồm:

- Đối với thẩm phán sơ cấp phải có thâm niên công tác pháp luật từ 5 năm trở lên, có năng lực xét xử, đã trúng tuyển kì thi tuyển chọn thẩm phán sơ cấp.

- Đối với thẩm phán trung cấp phải có thâm niên thẩm phán sơ cấp từ đủ 5 năm trở lên hoặc kinh nghiệm công tác pháp luật từ 13 năm trở lên, có năng lực xét xử, đã trúng tuyển kì thi tuyển chọn vào ngạch thẩm phán trung cấp.

- Đối với thẩm phán cao cấp phải có thâm niên thẩm phán trung cấp từ đủ 5 năm trở lên hoặc thời gian làm công tác pháp luật từ 18 năm trở lên, có năng lực xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án dân dân các cấp hoặc tòa án quân sự trung ương, đã trúng tuyển kì thi tuyển chọn vào ngạch thẩm phán cao cấp.

- Đối với thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải có thâm niên thẩm phán cao cấp từ đủ 5 năm trở lên và có năng lực xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao.

Có thể thấy, nhìn chung điều kiện trở thành thẩm phán chú trọng nhiều tới trình độ chuyên môn, cụ thể là thâm niên làm thẩm phán trước đó. Tuy nhiên, theo pháp luật hiện hành, điều kiện này không phải là tuyệt đối. Trong trường hợp cần thiết có thể tuyển chọn người chưa có thâm niên thẩm phán song có thâm niên công tác pháp luật. Thậm chí trong trường hợp cần thiết liên quan tới bố trí chức vụ lãnh đạo của bất kì tòa án nào hoặc để bổ nhiệm chức danh thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì ứng viên thẩm phán thậm chí không cần có thâm niên công tác pháp luật. Như vậy, tiêu chuẩn chuyên môn không phải lúc nào cũng được đề cao, đặc biệt hiện tại khi “thời gian làm công tác pháp luật” hiện đang được giải thích rất rộng, bao gồm hầu hết các nghề nghiệp trực tiếp hay gián tiếp liên quan tới pháp luật và không phải nghề nghiệp nào cũng có trình độ chuyên môn áp dụng pháp luật như nghề thẩm phán (Theo Khoản 6 Điều 68, khoản 2 Điều 69 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 và Khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-TANDTC-BQP-BNV ngày 20/10/2011 của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ quy định: “Thời gian làm công tác pháp luật” là thời gian công tác liên tục kể từ khi được xếp vào một ngạch công chức theo quy định của pháp luật, bao gồm: Thư kí tòa án, thẩm tra viên ngành tòa án; kiểm tra viên, điêu tra viên, kiểm sát viên ngành kiểm sát; trinh sát viên trung cấp trở lên, cảnh sát viên trung cấp trở lên của lực lượng cảnh sát nhân dân, trinh sát viên trung cấp trở lên của lực lượng an ninh nhân dân và điều tra viên trong lực lượng công an nhân dân; cán bộ điều tra, bảo vệ an ninh trong quân đội; chuyên viên, chấp hành viên, công chứng viên, thanh tra viên, cán bộ pháp chế, giảng viên về chuyên ngành luật; thời gian được bầu hoặc cử làm hội thẩm, thời gian làm luật sư cũng được coi là “thời gian làm công tác pháp luật”).

4. Đánh giá bạn đọc

Có ý kiện bạn đọc đánh giá "Hơn một nửa cuốn sách là tổng hợp các nghị quyết, thông tư,... Thậm chí là kê cả những văn bản không liên quan đến việc giải quyết án."

Về đánh giá của chúng tôi, ngay từ lời tựa tác giả đã viết "người Thẩm phán không chỉ nắm vững các kiến thức pháp luật chuyên ngành cũng như liên quan và còn phải luôn luôn cập cập nhật những kiến thức pháp luật mới được ban hành" do đó mục đích của cuốn sách chính nhằm cung cấp toàn diện nhất các quy định pháp luật có có liên quan đến hoạt động của Thẩm phán. Bởi vậy mà thời lượng sách dành cho việc trích dẫn các văn bản pháp luật chiếm phần lớn cuốn sách.

5. Kết luận

Pháp luật điều chỉnh vị trí, chức năng và quyền hạn của Thẩm phán và hệ thống pháp luật liên quan đến công tác xét xử của Thẩm phán là rất lớn, không phải vị Thẩm phán nào cũng có thể nắm bắt và cập nhật được kịp thời những văn bản mới. Vì vậy tác giả đã hệ thống đầy đủ tại cuốn sách này với mong muốn đó sẽ trở thành một cuốn sổ tay pháp lý phục vụ cho công tác của mọi  Thẩm phán.

Chính bởi vậy, cuốn sách sẽ có nhiều phần nội dung không cần thiết cho những cá nhân không phải là Thẩm phán.

Bên cạnh đó, cuốn sách được xuất bản năm 2017, cho đến nay, một số văn bản pháp luật cũng được được sửa đổi, bổ sung, hoặc thay thế và có văn bản mới. Chính vì vậy, nếu bạn đọc nghiên cứu lĩnh vực này có những kênh tra cứu văn bản pháp lý khác tiện lợi hơn thì cuốn sách này không là lựa chọn tối ưu.

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé!