1. Giới thiệu tác giả

Bộ Sách Kinh Điển Tư Bản Luận - Phê Phán Khoa Kinh Tế Chính Trị là công trình khoa học kinh điển của Karl Marx (C. Mác)

Bộ sách "Tư bản luận" có tên gốc đầy đủ là "Das Kapital - Kritik der politischen Oekinomie" (tạm dịch: Tư bản - Chỉ trích về kinh tế chính trị.

Bộ Tư Bản Luận do Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia sự thật ấn hành gồm 3 tập (4 phần = 4 cuốn bìa cứng):

- Tập thứ nhất: Quyển I: Quá trình sản xuất của Tư bản

- Tập thứ hai: Quyển II: Quá trình lưu thông của Tư bản

- Tập thứ ba gồm 2 quyền: Quyển III: Toàn bộ quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa – Phần thứ nhất (Chương I – XXVIII)  và Quyển III: Toàn bộ quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa – Phần thứ hai  (Chương XXIX – LII).

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Tư bản phê phán khoa kinh tế chính trị Quyển II: Quá trình lưu thông tư bản

Tư bản phê phán khoa kinh tế chính trị Quyển II: Quá trình lưu thông tư bản

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật

3. Tổng quan nội dung sách

Bộ sách "Tư bản luận" có tên gốc đầy đủ là "Das Kapital - Kritik der politischen Oekinomie" (tạm dịch: Tư bản - Chỉ trích về kinh tế chính trị).

Bộ sách “Tư bản” của Các Mác gồm 3 cuốn: quyển 1, quyển 2 và quyển 3, được dịch từ bộ sách Bình luận bộ Tư bản của Các Mác của Đ.I. Rôdenbe do Nhà xuất bản Sách Kinh tế Xã hội Liên Xô xuất bản tại Mátxcơva năm 1961 và được Nhà xuất bản Sự thật xuất bản lần đầu tiên vào cuối những năm 1960 đầu những năm 1970. Cho đến nay, Bộ sách này đã được tái bản nhiều lần, và lần gần đây nhất là năm 2019.

"Tư bản luận" không chỉ là công trình nghiên cứu kinh tế chính trị mà còn chứa đựng những quan điểm triết học của Marx và những kiến thức về lịch sử của các nước Tây Âu. Tác phẩm là sự phân tích về chủ nghĩa tư bản, về phương thức sản xuất và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. C. Mác là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của nhân loại, một nhà bác học uyên bác trên nhiều lĩnh vực, lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới. Bộ Tư bản là một công trình khoa học vĩ đại của ông, đã được xuất bản ra nhiều thứ tiếng khác nhau.

Để biên soạn bộ Tư bản, C. Mác đã dành 40 năm lao động không mệt mỏi, từ những năm 40 của thế kỷ XIX đến khi ông qua đời. Tập 1 của bộ sách được xuất bản năm 1867, các tập tiếp theo được xuất bản sau khi C. Mác qua đời, với sự hy sinh và tinh thần làm việc hết mình của Ph.Ăng-ghen – người bạn vĩ đại của ông – để hoàn thành những công việc mà C. Mác chưa kịp thực hiện. Bộ sách là một công trình kinh tế vĩ đại, đồng thời có giá trị to lớn về mặt triết học. Trong bộ sách, C. Mác đã phân tích một cách toàn diện và sâu sắc về chủ nghĩa tư bản với tính cách là một hình thái kinh tế – xã hội, vạch ra các quy luật ra đời, phát triển và suy vong của nó, đồng thời luận chứng các luận điểm và khái niệm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Không chỉ đề cập đến những vấn đề như: tư bản, hàng hóa, tiền tệ, gái trị thặng dư, tích lũy tư bản, tiền lương…, tác phẩm còn chứa đựng những quan điểm triết học của C. Mác và những kiến thức về lịch sử các nước Tây Âu đương thời.

Hiện nay, trong bối cảnh nền kinh tế đang có nhiều biến động do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì các giá trị khoa học trong bộ Tư bản đang thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của đông đảo bạn đọc. Nhằm giúp bạn đọc có điều kiện tiếp cận tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về bộ Tư bản, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật cho tái bản bộ sách này lần thứ hai.

Có thể nói, bộ Tư bản của Các Mác là sự phân tích về chủ nghĩa tư bản, về phương thức sản xuất và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, đề cập đến nhiều vấn đề trong kinh tế chính trị như tư bản, hàng hoá, tiền tệ, giá trị thặng dư, tích lũy tư bản, tiền lương. Do vậy, đây là tác phẩm có khối lượng kiến thức đồ sộ, không phải ai cũng có thể dễ dàng đọc và thấm nhuần toàn bộ kiến thức đó.

Tư bản phê phán khoa kinh tế chính trị Quyển II: Quá trình lưu thông tư bản nghiên cứu về:

- Biến đổi hình thái tư bản và tuần hoàn của nó

- Chu chuyển lưu thông của tư bản

- Tái sản xuất và lưu thông của tổng tư bản xã hội

Đây là một trong những tác phẩm khó dịch trong kho tàng lý luận kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin. Khó là vì lý luận đã uyên thâm, lời văn lại rất chính các, khoa học mà sâu sắc, tinh vi và súc tích: các thuật ngữ rất nhiều. Bao hàm đủ mọi ngành khoa học tự nhiên và xã hội, ngoài ra lại có rất nhiều điển tích rút ra từ lịch sử các nước, thế mà trình độ người dịch lại rãi có hạn, hơn nữa việc dịch ra tiếng Việt là thứ tiếng đang phát triển, vốn thuật ngữ khoa học còn nghèo và chưa thống thống nhất, cho nên bản dịch này không tránh khỏi còn có nhiều thiếu sót.

4. Đánh giá bạn đọc

"Tư bản luận" từ khi ra đời đến nay lúc nào cũng mang ý nghĩa kinh điển nhất cho mọi nền kinh tế và các nhà kinh tế. "Tư bản luận" luôn mang tính thời đại bởi những gì nó hàm chứa xuyên qua thời gian và luôn mang tính thời sự cao nhất. Trong "Tư bản luận" Mác đã kế thừa được tinh hoa của các quan điểm triết học cổ đại, nắm rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản từ lúc sơ khai nhất, nhìn thấu quy luật vận động và phát triển của cơ cấu thị trường. Đồng thời, Mác kế thừa và phát huy được hầu hết các ưu điểm trong các học thuyết kinh tế, thị trường và người lao động của những nhà kinh tế hàng đầu thế giới trong tập "Tư bản luận".

Tư bản phê phán khoa kinh tế chính trị Quyển II: Quá trình lưu thông tư bản nói riêng và Bộ sách "Tư bản luận" nói chung sẽ là những dẫn dắt, gợi ý có giá trị giúp ích rất nhiều cho những ai có nhu cầu quan tâm, nghiên cứu tác phẩm Tư bản của Các Mác một cách nghiêm túc và sâu sắc.

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Tư bản phê phán khoa kinh tế chính trị Quyển II: Quá trình lưu thông tư bản".

Luật Minh Khuê trích dẫn dưới đây những nội dung cơ bản trong lý thuyết tái sản xuất của C.Mác để bạn đọc tham khảo:

Để tìm hiểu về những cân đối kinh tế cơ bản trong nền kinh tế thị trường, theo C.Mác, cần xuất phát từ kết quả của sản xuất xã hội do các chủ thể kinh doanh khác nhau, gắn bó với nhau dựa trên hệ thống phân công lao động xã hội tạo ra. “...Sản phẩm hàng năm bao gồm những bộ phận của sản phẩm xã hội thay thế tư bản, tức là những bộ phận dành cho tái sản xuất tư bản xã hội, cũng như những bộ phận dành cho quỹ tiêu dùng, do công nhân và các nhà tư bản tiêu dùng, do đó, sản phẩm hàng năm bao gồm cả tiêu dùng sản xuất lẫn tiêu dùng cá nhân”. Như vậy, cân đối kinh tế ở đây là quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng thể hiện trước hết thông qua tỷ lệ giữa tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng trong sản phẩm xã hội. Tổng sản phẩm xã hội (TSPXH) là toàn bộ sản phẩm mà xã hội sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm. Từ đó, theo C.Mác, “Toàn bộ sản phẩm xã hội, do đó cả toàn bộ sản xuất xã hội, cũng phân thành hai khu vực lớn:

(1) Tư liệu sản xuất, tức là những hàng hóa có một hình thái khiến cho chúng phải - hay ít ra cũng có thể - đi vào tiêu dùng sản xuất. (Khu vực I (KVI) - Sản xuất tư liệu tiêu sản xuất (TLSX)).

(2) Vật phẩm tiêu dùng, tức là những hàng hóa có một hình thái khiến cho chúng đi vào tiêu dùng cá nhân của giai cấp các nhà tư bản và của giai cấp công nhân (Khu vực II (KVII) - Sản xuất tư liệu tiêu dùng (TLTD)).

Khi nghiên cứu các luồng dịch chuyển hiện vật và giá trị giữa hai khu vực sản xuất TLSX và TLTD của nền kinh tế, C.Mác chỉ rõ những điều kiện cân bằng tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng trên phạm vi toàn xã hội theo cơ chế thị trường. Nguồn gốc tăng trưởng kinh tế được khẳng định là do tăng trưởng của sản xuất vật chất, mức độ tăng trưởng được quyết định bởi quy mô tích lũy trước hết trong khu vực sản xuất TLSX. Bởi chỉ như vậy mới có thể khiến cho các bộ phận cấu thành tổng sản phẩm xã hội được bù đắp về mặt giá trị và hiện vật. Về mặt giá trị, TSPXH được cấu thành bởi 3 bộ phận: (1) Giá trị bù đắp cho tư bản bất biến (c) hay giá trị những TLSX đã hao phí trong quá trình sản xuất, bộ phận này được dùng để bù đắp các TLSX đã hao phí trong chu kỳ sản xuất; (2) Giá trị bù đắp cho tư bản khả biến (v) hay giá trị sức lao động đã hao phí. Khoản giá trị này bằng với tổng số tiền công trả cho sức lao động tham gia vào quá trình sản xuất; (3) Phần thứ ba là giá trị thặng dư (m) - kết tinh của lao động thặng dư. Về mặt hiện vật, TSPXH bao gồm: TLSX và TLTD, sự phân chia này là căn cứ vào mục đích sử dụng sản phẩm. Do đó, trong TSX; không những chỉ là một sự hoàn lại về mặt giá trị, mà còn là sự hoàn lại về hình thái hiện vật của sản phẩm nữa...”(2).

Khi phân tích quá trình tái sản xuất tư bản xã hội, C.Mác nêu 5 giả định: Toàn bộ nền kinh tế trong nước là nền kinh tế tư bản thuần túy (chỉ có tư bản công nghiệp, chỉ có quan hệ giữa nhà tư bản và công nhân); Mua, bán hàng hóa đúng với giá trị của nó, giá cả hàng hóa phù hợp với giá trị; Cấu tạo hữu cơ của tư bản        không thay đổi; Toàn bộ tư bản cố định (máy móc, thiết bị, đều chuyển hết giá trị của nó vào sản phẩm trong một năm); Không xét đến ngoại thương.

Để làm rõ quá trình tái sản xuất xã hội, C.Mác phân tích 2 mô hình tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng. Qua phân tích, C.Mác chỉ ra các điều kiện để thực hiện tổng sản phẩm xã hội, trước hết trong mô hình TSX giản đơn:

Khu vực I: 4000c + 1000v + 1000m = 6000 (tồn tại dưới hình thái hiện vật là TLSX)

Khu vực II: 2000c + 500v + 500m = 3000 (tồn tại dưới hình thái hiện vật hiện vật là tư liệu tiêu dùng)

Như vậy là TSPXH hàng năm (KVI + KVII) là 9000.

Quan hệ trao đổi giữa 2 khu vực có thể biểu diễn như sau:

I(1000v + 100m) = IIc

Với việc thực hiện trao đổi như trên sản xuất năm sau sẽ được lặp lại và theo quy mô cũ.

1) Các điều kiện thực hiện TSX giản đơn của tư bản xã hội là:

Điều kiện thứ 1: I(v+m)=IIc. Cung của KVI về những TLSX mới tạo ra (ngoài phần để bù đắp TLSX của KVI) phải bằng cầu về TLSX của KVII; đồng thời, cung về TLTD của KVII (trừ phần để tiêu dùng trong KVII) phải bằng cầu TLTD của công nhân và nhà tư bản KVI. Điều này phản ánh quan hệ cung cầu về TLSX và TLTD của hai khu vực trong nền kinh tế. Sự thực hiện trao đổi như thế này là điều kiện cần thiết để tái sản xuất theo quy mô cũ.

Điều kiện thứ 2: I (c+v+m) = Ic+IIc, nghĩa là, tổng cung về TLSX của xã hội phải bằng tổng cầu về TLSX của cả 2 khu vực. Điều này nói lên quan hệ cung - cầu về TLSX trong xã hội.

Điều kiện thứ 3: II (c+v+m) = I(v+m) + II(v+m), nghĩa là tổng cung về TLTD của xã hội phải bằng tổng cầu về tư liệu tiêu dùng của cả hai khu vực của nền kinh tế. Nó phản ánh quan hệ cung cầu về TLTD trong xã hội.

(2) Điều kiện thực hiện sản phẩm xã hội trong TSX mở rộng.

Muốn có TSX mở rộng phải biến một phần giá trị thặng dư (m) thành tư bản bất biến phụ thêm (cft) và tư bản khả biến phụ thêm (vft). Các bộ phận tư bản phụ thêm đó phải tìm được nguồn cung về TLSX và tư liệu tiêu dùng phụ thêm dưới hình thái hiện vật tương ứng với nhu cầu đó. Muốn có thêm TLSX thì KVI phải sản xuất ra nhiều TLSX hơn trong TSX giản đơn, để không những phụ thêm TSX cho KVI mà còn cho cả KVII. Tuy nhiên, do KVI là khu vực sản xuất TLSX, vì vậy, tích lũy KVI sẽ có tính quyết định đối với toàn bộ quá trình TSX mở rộng. Mức độ tích lũy của KVI được quyết định bởi khối lượng giá trị thặng dư được tạo ra bởi KVI và tỷ lệ phân chia khối lượng giá trị thặng dư ấy thành quỹ tích lũy và quỹ tiêu dùng. Đồng thời, KVII cũng phải sản xuất ra lượng TLTD nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng thêm của cả hai khu vực. Do đó, cơ cấu sản phẩm xã hội có những thay đổi. C.Mác đã đưa ra mô hình TSX mở rộng như sau: Giả định m’ = 100% và            , không thay đổi.

- Mô hình TSX:

Năm thứ 1: I (4000c+1000v+1000m)= 6000

                    II (1500c+750v+750m = 3000

Năm thứ 2: giả sử 1000m của KVI, phân chia 500m cho tiêu dùng các nhà tư bản, còn 500m dành cho tích lũy để mở rộng sản xuất và cấu tạo hữu cơ không thay đổi là 4/1, thì 500m sẽ chia thành 400cft và 100vft; 400cft tồn tại dưới hình thái TLSX nên được trao đổi trong nội bộ KVI, còn 100vft tồn tại dưới hình thái TLSX nên phải được trao đổi với KVII. Vậy, KVI phải trao đổi với KVII tất cả là: 1000v+100vft+500m (tiêu dùng cá nhân nhà tư bản) = 1600. Số TLSX mà KVI có thể cung cấp cho KVII (1600) đã vượt quá khối lượng TLSX của KVII (1500) là 100, đã tạo điều kiện cho TSX mở rộng ở KVII. Vậy ở KVII, tư bản phụ thêm sẽ là 100cft + 50vft (cấu tạo hữu cơ 4/1, không thay đổi).

Cơ cấu sản xuất mới sẽ là:

I (4000c+400cft) +(1000v+100vft) + 1100m = 6600

II (1500c+100cft)+(750v+50vft)+800m = 3200

Tổng sản phẩm xã hội là 9.800

(Nguồn: lyluanchinhtri.vn)