1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách Tư tưởng chính trị “Dân là gốc” trong lịch sử Việt Nam do PGS.TS. Lê Văn Thắng và TS. Nguyễn Văn Tuân chủ biên.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Tư tưởng chính trị “Dân là gốc” trong lịch sử Việt Nam

Tư tưởng chính trị “Dân là gốc” trong lịch sử Việt Nam

Tác giả: PGS.TS. Lê Văn Thắng và TS. Nguyễn Văn Tuân chủ biên

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật

3. Tổng quan nội dung sách

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã kiên cường đấu tranh chống giặc ngoại xâm và giành được những chiến thắng vang dội. Những thắng lợi có được là nhờ sự vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự, tập hợp sức mạnh toàn dân của giai cấp lãnh đạo. Cuốn sách “Tư tưởng chính trị “Dân là gốc” trong lịch sử Việt Nam” do PGS.TS. Lê Văn Thắng và TS. Nguyễn Văn Tuân chủ biên giúp bạn đọc cái nhìn toàn diện về quan điểm “Dân là gốc” qua các giai đoạn lịch sử đất nước và sự kế thừa của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Chương đầu, các tác giả trình bày một số vấn đề lý luận về tư tưởng chính trị “Dân là gốc” gồm: quan niệm, đặc điểm, các nhân tố chi phối tư tưởng. Khái niệm “Dân” mang ý nghĩa chính trị và xã hội sâu sắc, nó phản ánh mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp trong một chế độ kinh tế - xã hội nhất định. Một chế độ, một nhà nước muốn tồn tại và phát triển thì giai cấp cầm quyền phải biết trọng dân, phát huy sức mạnh quần chúng. Các nhân tố chi phối tư tưởng chính trị “Dân là gốc” phụ thuộc vào hệ tư tưởng, đường lối giữ nước, sự đoàn kết cộng đồng, nền văn hoá dân tộc và năng lực lãnh đạo của giai cấp lãnh đạo đất nước.

Các chương tiếp theo, tác giả phân tích bối cảnh lịch sử và khái quát nội dung tư tưởng chính trị “Dân là gốc” qua sáu thời kỳ lịch sử, bắt đầu từ thời Văn Lang - Âu Lạc đến thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay.

Thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc: nền kinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị đều ở mức sơ khai, con người sống gần tự nhiên, quan hệ giữa các nhà lãnh đạo đất nước với nhân dân gắn bó bền chặt. Sang thời Bắc thuộc, sự đô hộ và áp bức hà khắc của chế độ phong kiến Trung Quốc đòi hỏi các nhà lãnh đạo tăng cường động viên sức mạnh đoàn kết toàn dân tham gia các cuộc khởi nghĩa; cả dân tộc kiên cường, khôn khéo chống đồng hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc.

Thời kỳ từ thế kỷ X đến năm 1858 đánh dấu sự lên ngôi của các triều đại quân chủ phong kiến Việt Nam. Bên cạnh những thành tựu mà giai cấp thống trị đạt được là những yếu tố tiêu cực phát sinh như: áp bức, bóc lột nhân dân; xung đột, tranh giành quyền lực và rơi vào khủng hoảng chính trị. Nội dung tư tưởng “Dân là gốc” thời kỳ này gồm: Xây dựng tinh thần tự tôn, tự cường; chăm lo, bồi dưỡng, động viên sức dân nhằm bảo vệ độc lập dân tộc.

Thời kỳ chống thực dân Pháp, can thiệp Mỹ (1858-1954) và chống đế quốc Mỹ (1954-1975): diễn ra các phong trào yêu nước và các cuộc khởi nghĩa theo khuynh hướng dân chủ tư sản nhưng đều thất bại. Sự xuất hiện của Đảng Cộng sản Việt Nam đã giúp nhân dân ta giành được những chiến thắng mang tính bước ngoặt như: nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, giải phóng dân tộc thoát khỏi sự đô hộ của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra đường lối đúng đắn đã phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân chống đế quốc, phong kiến; động viên tinh thần yêu nước; thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài; quyết chiến, quyết thắng đánh bại kẻ thù,…

Thời kỳ đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh bảo vệ Tổ quốc (1975 - 1986): chúng ta phải khắc phục hậu quả nặng nề do chiến tranh và chế độ thực dân để lại, chống các thế lực thù địch gây chiến tranh ở biên giới Tây Nam và phía Bắc, trong khi đó các nước Đông Âu và Liên Xô rơi vào khủng hoảng. Giai đoạn này, Đảng ta chú trọng động viên sức mạnh toàn dân khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng và củng cố sức mạnh kinh tế, quốc phòng, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.

Thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế (1986-2016): thế giới diễn ra những biến đổi sâu sắc, chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, các vấn đề toàn cầu diễn biến ngày càng phức tạp như khủng bố, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh,…Nước ta thoát khỏi tình trạng đói nghèo, chính trị xã hội ổn định, kinh tế phát triển. Tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức đòi hỏi Đảng và nhân dân phải nỗ lực phấn đấu mạnh mẽ hơn. Nội dung tư tưởng “Dân là gốc” thời kỳ này coi quyền lợi nhân dân là xuất phát điểm, là mục tiêu hướng đến trong mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tập trung phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội, giữ vững an ninh - quốc phòng, quan tâm phát triển giáo dục, khoa học công nghệ, chăm lo văn hóa, xã hội, y tế nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân,…

4. Đánh giá bạn đọc

Cuốn sách vinh dự được nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu viết Lời tựa, trong đó khẳng định: Với hơn 350 trang sách khổ lớn, với một khối tư liệu phong phú và cập nhật, thông qua cách trình bày khoa học, hợp lý, cuốn sách Tư tưởng chính trị “Dân là gốc” trong lịch sử Việt Nam đã cung cấp cho bạn đọc một cái nhìn toàn diện, có hệ thống về cơ sở hình thành, những nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị “Dân là gốc” qua các giai đoạn lịch sử, sự kế thừa và phát huy cao độ bài học lịch sử đó của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay. 

Nội dung cuốn sách trình bày một số vấn đề lý luận về tư tưởng chính trị “Dân là gốc”, từ đó đi sâu phân tích vị trí, vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, sự quy tụ, tập hợp, động viên và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân của các nhà lãnh đạo đất nước trong các cuộc kháng chiên giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.

Bước vào sự nghiệp đổi mới, vận dụng và phát triển tư tưởng “Dân là gốc” của cha ông và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Những bài học được rút ra là những kinh nghiệm quý cần tiếp tục được quán triệt và phát huy trong tình hình mới.

Thông qua việc đánh giá, khái quát hóa nội dung tư tưởng chính trị “Dân là gốc” ở mỗi thời kỳ thành những luận điểm tiêu biểu, cuốn sách đã trình bày một cách khoa học, hấp dẫn những bài học quý báu trong lịch sử và trở thành những kinh nghiệm sâu sắc trong việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Với những luận điểm được trình bày sâu sắc và các bằng chứng lịch sử không thể chối cãi về sức mạnh toàn dân, cuốn sách sẽ là cẩm nang tư liệu hữu ích dành cho bạn đọc yêu lịch sử nước nhà!

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Tư tưởng chính trị “Dân là gốc” trong lịch sử Việt Nam".

Luật Minh Khuê trích dẫn dưới đây tư tưởng Nhân dân là trung tâm, là chủ thể để bạn đọc tham khảo:

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đổi mới đất nước, Đảng, Nhà nước ta luôn lấy nhân dân là trung tâm, là chủ thể. Tại Đại hội VI của Đảng, một trong bốn bài học lớn được Đảng rút ra trong toàn bộ hoạt động của mình là Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Bài học này tiếp tục được quán triệt sâu sắc trong các kỳ Đại hội VII và Đại hội VIII của Đảng.

Đánh giá quá trình đổi mới, Đại hội IX của Đảng một lần nữa khẳng định: Đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân. Đến Đại hội Đảng lần thứ XII, một trong năm bài học mà Đại hội đúc kết là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, luôn xác định “Dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kiên trì thực hiện đúng nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.

Tại Đại hội XIII, tư tưởng dân là gốc đã được đúc kết thành bài học riêng, với những nguyên tắc cơ bản, đồng thời tiếp tục được phát triển bổ sung. Theo đó, để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, cùng với thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, văn kiện Đại hội nhấn mạnh việc dân giám sát và dân thụ hưởng.

Đặc biệt, tại Hiến pháp năm 2013 – văn bản chính trị, pháp lý cao nhất của đất nước – cụm từ “nhân dân” được viết hoa một cách trang trọng, điều mà các bản Hiến pháp trước đó chưa thể hiện đã cho thấy sự tôn vinh của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân – chủ thể của đất nước, đồng thời khẳng định bản chất Nhà nước do dân, vì dân và tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

Theo nguyên Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý – người trực tiếp tham gia vào quá trình sửa đổi Hiến pháp, từ khi nghiên cứu chủ trương sửa đổi đến khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua, hai chữ nhân dân được viết hoa, khẳng định mạnh mẽ quan điểm “lấy dân làm gốc”. Nhân dân là chủ thể của Hiến pháp, chủ thể của quyền lực Nhà nước. Tầm vóc của Hiến pháp, sức sống của Hiến pháp cũng chính từ hai chữ “Nhân dân” đó.

Thông điệp mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta muốn khẳng định đến toàn thể nhân dân và bạn bè quốc tế rằng, ở Việt Nam, mọi chủ trương, chính sách đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Đất nước ta vì thế mà đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Thành quả này thuộc về nhân dân.

Qua đại dịch COVID-19, điều này càng được khẳng định mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Quan điểm “vì dân” được thể hiện xuyên suốt trong chiến lược của Đảng, Nhà nước về phòng, chống đại dịch COVID-19. Với một đất nước đang nỗ lực vươn lên, rất nhiều khó khăn phía trước, nhưng trong mọi đường lối của Đảng, sự điều hành của Nhà nước đều trước sau như một, chấp nhận thiệt hại về kinh tế nhưng bằng mọi giá, phải bảo vệ tính mạng nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội. Khó có thể kể hết ra đây những chỉ đạo, những quyết sách kịp thời trong hơn hai năm qua để hỗ trợ người dân vượt qua đại dịch, hay phục hồi kinh tế đất nước. Tuy là một nước còn nhiều khó khăn, nhưng Việt Nam là 1 trong 6 nước có tỷ lệ bao phủ vaccine phòng COVID-19 cao nhất thế giới.