1. Khái niệm số dư bên nợ

1.1 Ngân hàng:

Số dư bên nợ là số tiền nợ bởi một khách hàng của ngân hàng, khi khách hàng này viết chi phiếu lớn hơn số dư trong tăi khoản séc, tạo ra khoản thấu chi.

 

1.2 Chứng khoán:

số dư nợ bởi một khách hàng của nhà môi giới với số dư bảo chứng không đủ trong tài khoản giao dịch.

Số dư nợ trong tiếng Anh là Debit Balance.

Số dư nợ trong tài khoản kí quĩ là tổng số tiền khách hàng còn nợ người môi giới hoặc người cho vay khác các khoản tiền ứng trước để mua chứng khoán.

Do đó, số dư nợ là số tiền khách hàng phải có trong tài khoản sau khi thực hiện lệnh mua chứng khoán để giao dịch có thể được thực hiện.

 

1.3 Hiểu về số dư nợ

Khi mua kí quĩ, các nhà đầu tư vay tiền từ một nhà môi giới và sau đó kết hợp khoản tiền đó với của họ để mua số lượng cổ phiếu lớn hơn với hy vọng kiếm được lợi nhuận cao hơn.

Hai loại tài khoản đầu tư chính được sử dụng để mua và bán tài sản tài chính là tài khoản tiền mặt và tài khoản kí quĩ.

Trong tài khoản tiền mặt, một nhà đầu tư chỉ có thể chi tiêu số dư tiền đã gửi vào và không hơn.

Tài khoản kí quĩ cho phép nhà đầu tư hoặc nhà giao dịch vay tiền từ nhà môi giới để mua thêm cổ phiếu, hoặc trong trường hợp bán khống, mượn cổ phiếu để bán trên thị trường.

Một nhà đầu tư có số dư tiền mặt 1.000 đô la có thể muốn mua lượng cổ phiếu trị giá 1.800 đô la. Trong trường hợp này, nhà môi giới của anh ta có thể cho nhà đầu tư vay 800 đô la thông qua tài khoản kí quĩ.

Số dư nợ sẽ là 800 đô la vì đó là số tiền còn nợ trong tài khoản kí quĩ đối với các khoản tiền ứng trước để mua chứng khoán.

Số dư nợ có thể tương phản với số dư có. Mặc dù vị thế mua kí quĩ có số dư nợ, tài khoản kí quĩ chỉ có các vị thế bán sẽ hiển thị số dư có. Số dư có là tổng số tiền thu được từ bán khống và số tiền kí quĩ bắt buộc.

 

1.4 Số dư nợ được điều chỉnh

Tài khoản kí quĩ có thể có cả vị thế mua và vị thế bán. Số dư nợ được điều chỉnh là số tiền trong tài khoản kí quĩ còn nợ, trừ đi lợi nhuận khi bán khống và số dư trong tài khoản hỗn hợp đặc biệt (SMA).

Trong tài khoản kí quĩ, khách hàng môi giới có thể vay tiền từ công ty môi giới để mua chứng khoán, cầm cố tiền mặt hoặc chứng khoán đã có trong tài khoản kí quĩ làm tài sản thế chấp. Số dư nợ được điều chỉnh thông báo cho nhà đầu tư số tiền sẽ nợ nhà môi giới trong trường hợp có lệnh gọi kí quĩ.

Các qui định của ngành cho phép một nhà đầu tư vay tới 50% giá mua chứng khoán kí quĩ.

 

1.5 Ý nghĩa của số dư nợ

Tài khoản sổ cái có thể có cả số dư nợ hoặc số dư tín dụng được xác định bởi bên nào của tài khoản lớn hơn bên kia. Số dư nợ và số dư tín dụng thường là các thuật ngữ thường được sử dụng trong thế giới kế toán do đó điều quan trọng là phải hiểu sự khác biệt và ý nghĩa chính xác của chúng.

 

1.6 Nợ có trong kế toán là gì?

Mỗi 1 đối tượng kế toán (mỗi tài khoản kế toán) của nghiệp vụ xảy trong công ty đều có biến đống tăng và giảm. Do đó để thuận lợi cho quá trình theo dõi biến động tăng và giảm đó thì người ta quy ước mỗi tài khoản kế toán có bên Nợ và Bên có. Bên Nợ và Bên có thể hiện biến động tăng giảm của mỗi tài khoản.

 

2. Phương pháp ghi sổ kép là gì?

Phương pháp ghi sổ kép hay ghi trên tài khoản là phương pháp phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh lên tài khoản kế toán theo các quan hệ đối ứng bằng cách ghi ít nhất 2 lần cùng 1 số tiền phát sinh lên ít nhất 2 tài khoản kế toán có quan hệ đối ứng với nhau. Thực chất là ghi Nợ tài khoản này và ghi Có tài khoản khác có quan hệ đối ứng với nó với cùng một số tiền.

Ví dụ: Doanh nghiệp gửi 700tr tiền mặt vào tài khoản mở tại ngân hàng. Nghiệp vụ này liên quan đến sự biến động của tiền mặt và tiền gửi ngân hàng theo chiều hướng tăng tiền gửi và giảm tiền mặt. Tiền mặt và tiền gửi đều là tài sản, mà tài khoản tài sản tăng được ghi bên Nợ, giảm được ghi bên Có, do đó nghiệp vụ này được ghi Nợ tài khoản tiền gửi ngân hàng và ghi Có tài khoản tiền mặt.

 

2.1 Định khoản kế toán

Định khoản kế toán là việc xác định một nghiệp vụ kinh tế phát sinh được ghi Nợ và ghi Có vào những tài khoản kế toán nào với số tiền cụ thể là bao nhiêu. Như vậy định khoản kế toán là công việc trung gian có thể được thực hiện trước khi ghi sổ kế toán nhằm tránh sai sót và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân công lao động kế toán.

Định khoản kế toán bao gồm 2 loại là định khoản giản đơn và định khoản phức tạp. Định khoản giản đơn là những định khoản chỉ liên quan đến 2 tài khoản kế toán. Còn định khoản phức tạp là những định khoản liên quan đến ít nhất từ 3 tài khoản kế toán trở lên.

 

2.2 Nguyên tắc định khoản

Việc ghi sổ kép cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

  • Xác định tài khoản ghi Nợ trước, tài khoản ghi Có sau
  • Tổng số tiền ghi vào bên Nợ của các tài khoản phải bằng tổng số tiền ghi vào bên Có của các tài khoản trong cùng 1 định khoản
  • Một định khoản phức tạp có thể tách thành các định khoản giản đơn nhưng không được gộp các định khoản giản đơn thành 1 định khoản phức tạp.

Quy trình định khoản:

  • Xác định đối tượng kế toán xuất hiện trong mỗi nghiệp vụ kinh tế phát sinh được phản ánh trên chứng từ
  • Xác định tính chất tăng, giảm của từng đối tượng
  • Xác định các tài khoản kế toán sẽ sử dụng
  • Xác định tài khoản và số tiền ghi Nợ, ghi Có ngành xuất nhập khẩu

 

3. Quy định ghi tăng giảm nợ có của từng loại tài khoản kế toán

Có tất cả 9 loại tài khoản kế toán từ loại 1 đến loại 9 và tính chất ghi nợ có cũng từng loại tài khoản kế toán như sau:

  • Tính chất tài khoản loại 1; 2 (Tài sản): Là tài sản thuộc sở hữu của Công ty. Phát sinh tăng ghi bên Nợ và phát sinh giảm ghi bên Có. Số dư đầu kỳ và số dư cuối kỳ nằm bên nợ.
  • Tính chất tài khoản loại 3; 4 (Nguồn vốn): Nguồn vốn là nguồn hình thành nên tài sản. Bất kỳ 1 tài sản nào cũng có nguồn hình thành. Tính chất loại 3; 4 là Phát sinh tăng ghi bên Có và phát sinh giảm ghi bên Nợ. Số dư đầu kỳ và số dư cuối kỳ nằm bên Có.
  • Tính chất của loại 5; 7 (Doanh thu và thu nhập khác): Khi phát sinh tăng doanh thu và thu nhập khác ghi bên Có. Phát sinh giảm doanh thu ghi bên nợ là do cuối tháng kết chuyển vào loại 9 để xác định kết quả lãi hoặc lỗ.
  • Tính chất của loại 6;8 (Chi phí): Khi phát sinh tăng chi phí ghi bên Nợ, phát sinh giảm ghi bên Có là do cuối tháng kết chuyển vào loại 9 để xác định kết quả lãi hoặc lỗ.

Số dư đầu kỳ và số dư cuối kỳ nằm bên nợ. Có thể biểu thị Nhóm tài khoản loại 1 và 2 bằng sơ đồ chữ T như sau:
Lưu ý:

  • Riêng các tài khoản điều chỉnh loại 1;2 (như Tài khoản 129; Tài khoản 139; Tài khoản 229; Tài khoản 214) là những tài khoản điều chỉnh thì Bên có thể hiện phát sinh tăng; Bên nợ thể hiện phát sinh giảm; Số dư cuối kỳ và đầu kỳ nằm bên Có. Khi trình bày trên Bảng cân đối kế toán thì trình bày số tiền của những tài khoản này thì trình bày dưới dạng số âm.
  • Tài khoản phải thu (Như tài khoản 131; Tài khoản 1388) là những tài khoản lưỡng tính nên vừa có số dư bên nợ và vừa có số dư bên có. Nếu có số dư bên Có thì trình bày trên bảng Cân đối kế toán ở phần nguồn vốn. Nếu có số dư bên Nợ thì trình bày trên bảng cân đối kế toán ở phần Tài sản.

Nhóm tài khoản loại 3,4: Đây là nhóm tài khoản nguồn vốn (Loại 3 là Nợ phải trả và loại 4 là Nguồn vốn chủ sở hữu)

Những tài khoản này phản ánh công nợ phải trả nguồn vốn chủ sở hữu. Và đây là nguồn vốn để hình thành nên tài sản.

  • Bên Nơ thể hiện phát sinh giảm nợ phải trả và nguồn vốn trong kỳ (Tháng, Quý, Năm)
  • Bên Có thể hiện phát sinh tăng nợ phải trả và nguồn vốn trong kỳ (Tháng , Quý , Năm)
  • Số dư đầu kỳ và số dư cuối kỳ nằm bên Có

Có thể biểu thị Nhóm tài khoản loại 3 và 4 bằng sơ đồ chữ T như sau:

Lưu ý: Tài khoản loại 3 thuộc công nợ phải trả như tài khoản phải trả người bán (Tài khoản 331) và tài khoản phải trả khác (Tài khoản 3388) thì những tài khoản này là tài khoản lưỡng tính nên vừa có số dư bên nợ và vừa có số dư bên có. Nếu có số dư bên Nợ thì trình bày trên Bảng cân đối kế toán phần Tài sản. Nếu có số dư bên Có thì trình bày trên Bảng cân đối kế toán phần Nguồn vốn.

Nhóm Tài khoản loại 5,7: Tài khoản Doanh thu và Thu nhập khác

Tài khoản này phản ánh doanh thu và thu nhập khác của doanh nghiệp. Hay còn gọi là đầu ra của doanh nghiệp. Tài khoản loại 5 càng lớn thì càng tốt.

  • Bên Nợ thể hiện phát sinh giảm doanh thu do kết chuyển vào tài khoản 911 để xác định kết quả kinh doanh
  • Bên Có thể hiện phát sinh tăng doanh thu và thu nhập trong kỳ (Tháng, Quý , Năm)
  • Tài khoản này không có số dư cuối kỳ

Có thể biểu thị Nhóm tài khoản loại 5;7 bằng sơ đồ chữ T như sau:
Lưu ý: là trong nhóm 5 có các khoản giảm trừ doanh thu gồm các tài khoản (Giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại; Chiết khấu thương mại). Kết cấu của nhóm này được minh họa bằng sơ đồ chữ T
Nhóm Tài khoản loại 6,8: tài khoản chi phí
Tài khoản chi phí thể hiện chi phí phát sinh của doanh nghiệp. Số tiền tài khoản này càng lớn thì thể hiện chi phí của Công ty càng nhiều.

  • Bên Nợ thể hiện phát sinh tăng Chi phí trong kỳ (Tháng, Quý, Năm)
  • Bên Có thể hiện phát sinh giảm Chi phí trong kỳ (Tháng, Quý , Năm) do kết chuyển vào tài khoản 911 để xác định kết quả kinh doanh
  • Tài khoản này không có số dư cuối kỳ

Có thể biểu thị Nhóm tài khoản loại 6;8 bằng sơ đồ chữ T

Tài khoản loại 9: Xác định kết quả kinh doanh

Nghiệp vụ này thường xảy ra vào thời điểm cuối kỳ, nhằm tổng hợp tất cả chi phí, doanh thu, và xác định kết quả kinh doanh.

Đây là tài khoản trung gian dùng để kết chuyển doanh thu và chi phí khi xác định kết quả kinh doanh trong kỳ.

  • Bên Nợ thể hiện kết chuyển chi phí
  • Bên Có thể hiện kết chuyển doanh thu và thu nhập
  • Tài khoản này không có số dư cuối kỳ

Có thể biểu thị tài khoản loại 9 bằng sơ đồ Chữ T