Luật sư tư vấn:

Vấn đề bạn quan tâm & đặt câu hỏi, Luật Minh Khuê xin được trao đổi như sau:

 

1. Nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đối với bên vay

Quy định nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay nhằm bảo đảm bên vay ý thức, trách nhiệm trả nợ đối với khoản nợ tại từng thời điểm tín dụng. Đây còn là cơ sở để xác định hành vi tuân thủ hay vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay để có các chế tài hợp đồng phù hợp. Đồng nghĩa rằng, tổ chức tín dụng được quyền thực thi các biện pháp, cách thức để kiểm soát nợ, thu hồi nợ, sao cho có hiệu quả nhất.

Trong quá trình vay, bên vay không trả được nợ có thể vì nhiều lý do chủ quan, hay khách quan khác nhau. Tùy thuộc vào điều kiện và năng lực tài chính của mình, bên cho vay có thể chủ động điều chỉnh kỳ hạn trả nợ (khoản 1 Điều 18 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN) nhưng phải tuân thủ quy định về hiệu quả và an toàn khi thực thi quy định này. Pháp luật còn nghiêm cấm những trường hợp che giấu nợ, đảo nợ, tạo nguy cơ rủi ro cho chính tổ chức tín dụng và hệ thống ngân hàng. Dựa vào quy định này, các bên có thể thỏa thuận phương thức thanh toán phù hợp với hoàn cảnh, năng lực tài chính của mình. Ngay cả khi phải trả nợ trong cùng một kỳ hạn, tổ chức tín dụng cũng cần phân biệt các khoản nỢ gốc và lãi, làm căn cứ tính lãi suất, các khoản phạt vi phạm sau này, không được cộng dồn, bất lợi cho người vay.

Nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và tiền lãi của bên vay đi kèm theo đó là các biện pháp chế tài vi phạm hợp đồng theo các cam kết. Do vậy, bên vay phải tự giác, nghiêm túc thực hiện. Trường hợp bên vay không trả nợ đầy đủ và đúng hạn, với tư cách là chủ nợ, bên cho vay được quyền yêu cầu tòa án, trọng tài giải quyết. Khi đó, phát sinh nhiều hệ quả bất lợi khác, bao gồm cả các khoản bồi thường thiệt hại, các khoản phạt và biện pháp xử lý tài sản bảo đảm.

 

2. Chế tài áp dụng khi vi phạm trả nợ gốc và lãi đối với bên vay

Các biện pháp chế tài vi phạm nghĩa vụ hoàn trả tiền vay và lãi suất được pháp luật Việt Nam quy định như sau:

 

2.1 Đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc:

Pháp luật cho phép các tổ chức tín dụng được chuyển nợ quá hạn (Điều 20 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN), bằng việc ấn định một mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cho vay trong hạn. Quy định này như một thông lệ chung, phù hợp với nguyên tắc chế tài vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền vay, được áp dụng trong luật Việt Nam.

 

2.2 Đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ trả lãi

Pháp luật đặt ra chế tài bằng hình thức phạt chậm trả lãi (khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN), mức phạt do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm. Tỷ lệ này được tính trên số dư lãi chậm trả, tương ứng với thồi gian chậm trả.

Nghĩa vụ trả nợ ngân hàng có những điểm khác biệt vởỉ nghĩa vụ thanh toán trong lĩnh vực thương mại. Tuy cùng phát sinh từ hợp đồng nhưng trong quan hệ cho vay, tiền vay hình thành từ nhiều nguồn khác nhau nên trách nhiệm thu hồi tiền vay, không đơn thuần chỉ là lợi ích của riêng ngân hàng. Bên vay không chỉ trả nợ khi đến hạn cam kết mà còn phải thực hiện nghĩa vụ này đến khi trả hết nợ, không phụ thuộc ngân hàng có xúc tiến đòi nợ hay bị phụ thuộc thời hạn hoạt động tố tụng của tòa án, trọng tài. Lãi suất phát sinh về nguyên tắc cũng phải tuân theo lãi suất được ghi trong hợp đồng cho vay có vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nghĩa là lãi suất nợ quá hạn phải theo mức lãi có điều chỉnh hoặc không điều chỉnh như thỏa thuận. 

Vì vậy, Tòa án, trọng tài khi xét xử phải ghi rõ mức lãi suất trong bản án, quyết định của mình đã tuyên để đương sự thi hành; đồng thời, thống nhất ấn định lãi suất bên vay phải thanh toán từ thời điểm trả nợ cho đến khi trả hết nợ thay vì để các cấp Tòa án hoặc cơ quan thi hành án tự ấn định thời điểm, mức lãi suất dựa trên các quy định của giai đoạn tố tụng, của pháp luật về chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong lĩnh vực dân sự. Điều này sẽ đi ngược với nguyên tắc hoàn trả tiền vay và lãi suất, không bảo đảm quyền lợi chính đáng cho các tổ chức tín dụng (do lãi suất bị gián đoạn, hoặc thấp hơn mức thỏa thuận).

Vấn đề đặt ra là, những giới hạn của quyền yêu cầu hoàn trả nợ gốc và lãi đến đâu? Có bị chi phối, ảnh hưởng bởi quy định về thời hiệu khởi kiện hay không? Theo tác giả, điều này vẫn còn nhiều tranh luận cả trong lý luận và thực tiễn. Vì lẽ, nếu bị chi phối thời hiệu khởi kiện, khi đó nguy cơ tổ chức tín dụng bị thiệt hại, không thu hồi được tiền vay do bên vay cố tình tránh né không hợp tác, làm gia tăng áp lực xử lý nợ của tổ chức tín dụng.

Tóm lại, những nghĩa vụ nêu trên đã thể hiện rõ mục đích, ý nghĩa cơ bản của quan hệ cho vay. Quy định này không chỉ làm bình đẳng nghĩa vụ giữa các chủ thể hợp đồng, mà còn đúng với bản chất của tín dụng - tổ chức tín dụng vừa là người cho vay nhưng cũng là người đi vay. Đó còn là trách nhiệm của bên cho vay phải tuân thủ pháp luật, bảo vệ lợi ích chung của xã hội, kể cả nghĩa vụ đôn đốc giám sát bên vay hoàn trả tiền vay.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, hoạt động vay vốn, giải ngân vốn... Quý khác hàng vui lòng gọi: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng, tài chính trực tuyến qua tổng đài điện thoại. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.