Nói là  cho công ty   để lấy vốn làm ăn và họ sẽ trả dần cho các chi nhánh ,  hợp đồng  do  tôi đại diện  đứng ra ký tên với hạn chót là ngày 30/04/2016, công ty phải thanh tóan hết số nợ cho các chi nhánh . Thời  gian đầu công ty trên có trả lãi hàng tháng cho chúng tôi trong vòng 3 tháng  đầu , đến nay công ty mới  thanh toán cho chúng tôi  100 triệu.  Nay công ty không có khả năng thanh toán số tiền còn lại cho chúng tôi, nhiều lần chúng tôi đến đòi thì giám đốc công ty đều khất nợ ,gần đây chúng tôi có đến đòi thì 2 người này đã bỏ trốn và đổi số điện thoại. Tôi xin hỏi luật sư 2 vấn đề :

1.Tôi có phải chịu trách nhiệm về hợp đồng vay với chủ các chi nhánh không?

2. Nếu tôi kiện lên tòa thì tòa án sẽ xử như thế nào về số tiền cả 150 triệu của tôi và 700 triệu còn lại của các chi nhánh?

Xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên soạn từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự  của công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến  gọi: 1900 6162

Trả lời : 

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 1. Cơ sở pháp lý

>> Xem thêm:  Làm thế nào để lấy lại được tiền ? Thủ tục khởi kiện đòi tiền cần những giấy tờ gì ?

Bộ luật Dân sự năm 2005  

2. Luật sư tư vấn

 Thứ nhất , Căn cứ theo Điều 581 BLDS năm 2005 :

"Điều 581. Hợp đồng uỷ quyền

Hợp đồng uỷ quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ quyền, còn bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định."

Vậy có thể nói , trong trường hợp này bạn và những người chủ chi nhánh công ty đã giao kết 1 hợp đồng ủy quyền bằng miệng với nội dung bạn đại diện cho họ kí kết hợp đồng cho vay tiền vì vậy bạn chỉ đại diện ký kết chứ không cần chịu trách nhiệm về số nợ này . Tuy pháp luật không quy định về hình thức của hợp đồng ủy quyền nhưng đây là 1 loại hợp đồng quan trọng liên quan đến 1 số  tiền lớn nên hai bên nên lập 1 hợp đồng ủy quyền có chữ ký của 2 bên .

Thứ hai, về việc  đòi tài sản cho vay tại tòa án  , ở đây việc vay mượn được giám đốcc  thực hiện trên danh nghĩa công ty mà công ty này hoạt động dưới  hình thức công ty TNHH nên họ chỉ phải chịu trách nhiệm tài chính bằng vốn điều lệ và các tài sản thuộc sở hữu của công ty . 

Điều 4, Luật Phá sản 2014 phân biệt rạch ròi giữa hai khái niệm là “mất khả năng thanh toán” và “phá sản”. Theo đó, công ty trên  được cho là mất khả năng thanh toán “khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn ba tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”, . Khi doanh nghiệp này mất khả năng thanh toán thì  việc có tình trạng mất khả năng thanh toán này  là cơ sở để chủ nợ, người lao động, người đại diện theo pháp luật hay người quản lý của doanh nghiệp, cổ đông nộp đơn yêu cầu tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp (điều 5) và là căn cứ để thẩm phán ra quyết định mở thủ tục phá sản (khoản 2, điều 42).  Vì vậy  bạn và các chủ nợ có quyền yêu cầu tòa án mở thủ tục phá sản với công ty này , khi mở thủ tục phá sản thì tài sản của công ty này sẽ được đem ra thanh toán các khoản nợ  theo thứ tự quy định tịa điều 54 luật phá sản :

1. Trường hợp Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản thì tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được phân chia theo thứ tự sau:
a) Chi phí phá sản;

>> Xem thêm:  Những vấn đề pháp lý cần lưu ý khi vay và cho vay tài sản?

b) Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bỏ hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể đã ký kết;
c) Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã;
d) Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ.
2. Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã thanh toán đủ các khoản quy định tại khoản 1 Điều này mà vẫn còn thì phần còn lại này thuộc về:
a) Thành viên hợp tác xã, hợp tác xã thành viên;
b) Chủ doanh nghiệp tư nhân;
c) Chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;
d) Thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, cổ đông của công ty cổ phần;
đ) Thành viên của Công ty hợp danh.
3. Nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều này thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.

>> Xem thêm:  Người khác vay tiền không trả thì phải làm sao?

Vậy sau khi thực hiện hết các nghĩa vụ tài chính quy định tại điểm a, b,c khoản 1 điều 154 nêu trên nếu công ty vẫn còn tài sản thì sẽ thanh toán nợ cho các chủ nợ .
Về tài sản ký quỹ , ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quí hoặc giấy tờ có giá khác vào tài khoản phong toả tại một ngân hàng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự. Vậy sau khi tòa án tuyên bố phá sản với công ty trên bạn ó thể đến ngân hàng để làm thủ tục lấy lại tài sản ký quỹ . Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Dân sự.

>> Xem thêm:  Tôi phải làm gì khi liên tục bị đòi tiền làm ảnh hưởng công việc của tôi?