1. Sở hữu trí tuệ là gì ?

“Rum và Coca-Cola”, một bài hát Calypsocó lẽ là nổi tiếng nhất mọi thời đại về một đề tài nóng bỏng, vào những năm 1940 là bài hát ăn khách nhất của ban nhạc Andrews Sisters.

Bài hát này cũng là nguyên nhân của một vụ án nổi tiếng của Mỹ nhằm giành lại quyền tác giả cho nhạc sỹ Lionel Belasco người Trinidad vốn đã viết bài hát này từ vài thập kỷ trước đó với nhan đề “L’Année Passée”. Luật sư đại diện cho người xuất bản bản nhạc gốc của Belasco đã chứng minh được với tòa rằng bài hát “Rum và Coca

ĐIỂM MẤU CHỐT

Belasco đã được công nhận là tác giả của bài hát và nhận được tiền bồi thường cho việc người ta sử dụng tác phẩm của mình mà không xin phép vì Hoa Kỳ có luật bảo vệ sở hữu trí tuệ của các nhân tài như Belasco và thi hành những luật này để ngăn chặn việc vi phạm sở hữu trí tuệ. Nhưng giả sử người xuất bản đi kiện tại một quốc gia không có luật bảo vệ sở hữu trí tuệ hoặc có nhưng yếu kém thì có lẽ quá trình đi kiện và việc đòi bồi thường của Belasco đã không có một kết cục tốt đẹp như vậy.

>> Luật sư tư vấn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Gọi: 1900.6162

SỞ HỮU TRÍ TUỆ LÀ GÌ?

Tại sao những quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hà Lan lại bảo vệ các phát minh; các tác phẩm nghệ thuật và văn học; các biểu tượng, hình ảnh, tên, thiết kế dùng trong thương mại: thông tin và lời nói được dùng lần đầu của những cá nhân sáng tạo ra chúng được gọi là sở hữu trí tuệ (IP)? Các quốc gia này làm như vậy bởi lẽ họ biết rằng bảo vệ những quyền sở hữu này thì mới thúc đẩy được phát triển kinh tế, khuyến khích phát minh kỹ thuật và thu hút được đầu tư để tạo ra công ăn việc làm mới và những cơ hội cho công dân của họ. Báo cáo về Triển vọng Kinh tế Toàn cầu của Ngân hàng Thế giới năm 2002 đã khẳng định tầm quan trọng ngày càng tăng của sở hữu trí tuệ đối với các nền kinh tế toàn cầu hóa hiện nay và phát hiện ra rằng “với các mức thu nhập khác nhau thì quyền sở hữu trí tuệ (IPR) thường gắn liền với thương mại và các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn hơn và nhờ vậy có tốc độ phát triển kinh tế nhanh hơn”.

Chẳng hạn như tính riêng ở Hoa Kỳ thì các nghiên cứu trong thập kỷ vừa qua đã ước tính rằng hơn 50% lượng hàng xuất khẩu của Hoa Kỳ hiện nay phụ thuộc vào việc bảo vệ các loại sở hữu trí tuệ so với dưới 10% trước đây 50 năm.

Những người có năng khiếu nghệ thuật hoặc sáng tạo có quyền ngăn chặn việc sử dụng hay mua bán trái phép những sáng tạo của mình, giống như người sở hữu những tài sản hữu hình như xe hơi, nhà ở, cửa hàng. Tuy nhiên, so với những người làm ra ghế, tủ lạnh hay những hàng hóa hữu hình khác thì những người sở hữu các sản phẩm vô hình gặp nhiều khó khăn hơn trong việc kiếm sống nếu như khiếu nại của họ về các sáng tạo của họ không được tôn trọng. Nghệ sỹ, tác giả, nhà phát minh và những người khác không thể dùng khóa hay hàng rào để bảo vệ tác phẩm của họ hoặc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để ngăn những người khác kiếm lợi từ thành quả lao động của họ.

Ngoài việc để cho các nhà phát minh và nghệ sỹ có thể nhận được bồi thường xứng đáng và để cho các quốc gia thu hút được đầu tư và công nghệ nước ngoài thì việc bảo vệ sở hữu trí tuệ còn rất quan trọng đối với người tiêu dùng. Chúng ta không thể có những tiến bộ trong ngành giao thông, truyền thông, nông nghiệp và chăm sóc y tế nếu không bảo vệ mạnh mẽ quyền sở hữu trí tuệ.

Việc thừa nhận và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ngày càng tăng cũng liên quan rất nhiều tới mức sống được nâng cao nhanh chóng ở những quốc gia như Trung Quốc và Ấn Độ. Chỉ vài năm trước đây, Ấn Độ đã không thể giữ được các kỹ sư và chuyên gia máy tính hàng đầu của mình. Việc thiếu các quy định về bảo vệ sở hữu trí tuệ đã buộc các chuyên gia này di cư sang những quốc gia nơi mà thành quả lao động của họ được bảo vệ và những đối thủ cạnh tranh không được phép khai thác trái phép những tiến bộ khoa học. Sau đó vào năm 1999, Quốc hội Ấn Độ đã thông qua một đạo luật bảo vệ sản phẩm trí tuệ của các chuyên gia máy tính. Kết quả là Ấn Độ đã có ngành công nghiệp công nghệ cao sản xuất những phần mềm tiên tiến nhất thế giới và sử dụng hàng ngàn nhân công mà lẽ ra đã rời Ấn Độ để sang những nước giàu có hơn.

CÁC LOẠI SỞ HỮU TRÍ TUỆ QUAN TRỌNG

Những hình thức sở hữu trí tuệ chủ yếu là bằng sáng chế, bản quyền, nhãn hiệu và bí mật thương mại. Do sở hữu trí tuệ cũng có nhiều đặc tính của sở hữu cá nhân và sở hữu tài sản thực sự nên những quyền lợi gắn liền với sở hữu trí tuệ cho phép chúng ta có thể mua, bán, cấp phép hay thậm chí là cho không sở hữu trí tuệ của chúng ta như tài sản thông thường. Luật về sở hữu trí tuệ cho phép chủ sở hữu, người phát minh và tác giả bảo vệ tài sản của mình trước việc sử dụng trái phép.

Bản quyền

Bản quyền là một thuật ngữ pháp lý mô tả quyền lợi kinh tế của người sáng tác ra các tác phẩm văn học và nghệ thuật, trong đó bao gồm quyền tái bản, in ấn và trình diễn hay trưng bày tác phẩm của mình trước công chúng. Bản quyền chủ yếu nhằm bảo vệ âm nhạc, phim ảnh, tiểu thuyết, thơ ca, kiến trúc và các tác phẩm nghệ thuật có giá trị văn hóa khác. Khi nghệ sỹ và người sáng tác đưa ra những hình thức thể hiện khác thì những loại hình thể hiện mới này cũng được bao gồm trong trong những công trình được bảo hộ bản quyền. Các chương trình máy tính và ghi âm giờ đây cũng được bảo vệ.

Bản quyền cũng được bảo vệ lâu hơn nhiều so với một số hình thức sở hữu trí tuệ khác. Công ước Berne, công ước quốc tế được ký năm 1886, theo đó các nước tham gia công ước công nhận các tác phẩm được bảo hộ bản quyền của các nước thành viên, quy định rằng thời gian bảo hộ bản quyền là 50 năm kể từ khi tác giả qua đời. Theo Công ước Berne thì các tác phẩm văn học, nghệ thuật và các tác phẩm có giá trị khác được bảo hộ bản quyền ngay từ khi ra đời. Tác giả không cần phải đăng ký chính thức quyền bảo hộ cho tác phẩm của mình tại những quốc gia là thành viên của Công ước đó.

Tuy nhiên, Công ước Berne cho phép cấp bản quyền có điều kiện, chẳng hạn như trường hợp của Hoa Kỳ chỉ bảo hộ bản quyền đối với những tác phẩm được sáng tác theo những hình thức nhất định. Nhiều nước cũng có các trung tâm bản quyền quốc gia để quản lý hệ thống bản quyền. Chẳng hạn như ở Hoa Kỳ, Hiến pháp cho phép Quốc hội ban hành luật để thiết lập hệ thống bản quyền và hệ thống này do Phòng Bản quyền thuộc Thư viện Quốc hội quản lý.

Phòng Bản quyền của Hoa Kỳ là nơi nhận các khiếu nại về bản quyền và là nơi các văn bản liên quan tới bản quyền được lưu giữ khi đáp ứng được các yêu cầu của luật bản quyền Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đối với tất cả các tác phẩm – kể cả tác phẩm nước ngoài – thì việc đăng ký bản quyền mau lẹ ở Hoa Kỳ sẽ đem lại những thuận lợi với chi phí không đáng kể.

Khả năng nhanh chóng đăng ký quyền bảo hộ bản quyền đã làm cho các ngành công nghiệp giải trí khổng lồ của Hoa Kỳ phát triển mạnh mẽ. Theo báo cáo năm 2004 của Stephen Siwek về các ngành công nghiệp được bảo hộ bản quyền trong nền kinh tế Hoa Kỳ thì các ngành công nghiệp được bảo hộ bản quyền “chủ yếu” ở Hoa Kỳ đóng góp 6% vào GDP năm 2002 của Hoa Kỳ, hay 626,2 tỷ đô-la Mỹ. Báo cáo định nghĩa các ngành công nghiệp được bảo hộ bản quyền “chủ yếu” là ngành báo chí, xuất bản sách, ghi âm, âm nhạc, tạp chí thường kỳ, phim ảnh, chương trình truyền hình và phát thanh, phần mềm máy tính. Trong báo cáo năm 2004 thì cửa hàng sách và quầy bán báo cũng được đưa thêm vào danh sách các ngành công nghiệp “chủ yếu”.

Chỉ tác giả hay những người được tác giả trao quyền – chẳng hạn như nhà xuất bản- mới có toàn quyền khiếu nại về bản quyền. Tuy nhiên cho dù là ai đang sở hữu bản quyền đi chăng nữa thì quyền đó cũng có giới hạn. Ví dụ như ở Hoa Kỳ người ta có thể sao chép lại một phần tác phẩm với mục đích học tập, phê bình, đưa tin hay giảng dạy. Những quy định tương tự về “sử dụng hợp lý” cũng có ở những quốc gia khác. Phạm vi về những ngoại lệ này được trao đổi kỹ hơn trong bài “Thế nào là ‘sử dụng hợp lý’?”.

Bản quyền bảo vệ việc xử lý số liệu nhưng không bảo vệ những số liệu mới được thu thập. Hơn nữa, bản quyền không bảo vệ ý tưởng hay quy trình mới; nếu ý tưởng hay quy trình được bảo hộ thì sẽ được bảo hộ trong bằng sáng chế.

Bằng sáng chế

Người ta có thể nói rằng bằng sáng chế là hợp đồng giữa một bên là toàn thể xã hội và một bên là cá nhân nhà phát minh. Theo các điều khoản của hợp đồng này, nhà phát minh được toàn quyền ngăn chặn người khác không được áp dụng, sử dụng và bán một phát minh đã được cấp bằng sáng chế trong một khoảng thời gian nhất định – hầu hết các nước quy định là 20 năm – để đổi lại việc nhà phát minh phải công bố chi tiết phát minh của mình cho công chúng.

Nếu không có sự bảo hộ của bằng sáng chế thì nhiều sản phẩm đã không bao giờ xuất hiện, đặc biệt là những sản phẩm cần vốn đầu tư lớn nhưng một khi đã bán ra thị trường thì dễ dàng bị các đối thủ cạnh tranh bắt chước làm theo. Ít nhất là kể từ năm 1474 khi nước Cộng hòa Venice lần đầu tiên cấp bằng sáng chế thì việc bảo hộ bằng sáng chế đã thúc đẩy sự phát triển và phổ biến những công nghệ mới.

Nếu không có bằng sáng chế thì sẽ không thể có sự phát triển công nghệ. Nếu các nhà sáng chế phải bảo vệ sáng chế của mình bằng cách giữ bí mật về những sáng chế đó thì điều quan trọng hơn là những sáng chế không được công bố này sẽ bị mai một đi.

Tuy nhiên, việc xin cấp bằng sáng chế không hề đơn giản. Bằng sáng chế không được cấp cho những ý tưởng mơ hồ mà chỉ được cấp cho những đơn xin cấp bằng được trình bày một cách cụ thể và cẩn thận. Nhằm tránh việc bảo hộ cho những công nghệ đã được phổ biến hay công nghệ mà đến thợ thủ công bình thường cũng dễ dàng làm được, những đơn xin cấp bằng sáng chế phải được các chuyên gia xem xét. Do đơn xin cấp bằng sáng chế khác nhau rất nhiều về giá trị của công nghệ mà đơn đòi bảo hộ, người xin cấp bằng sáng chế phải nói rõ phạm vi bảo hộ hợp lý. (Phạm vi bảo hộ buộc người nộp đơn xin cấp bằng sáng chế phải rất thận trọng trong việc đưa ra giới hạn về phát minh của mình và những gì sẽ được bảo hộ khỏi sự xâm phạm). Việc này thường mất hai năm hoặc lâu hơn và rất tốn kém.

Bí mật thương mại

Bất cứ thông tin nào có thể được sử dụng trong việc điều hành doanh nghiệp và có giá trị lớn trong việc tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai hay trong thực tại đều được coi là bí mật thương mại. Ví dụ về bí mật thương mại có thể là công thức sản xuất ra các sản phẩm, chẳng hạn như công thức sản xuất Coca-Cola; việc thu thập thông tin nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh cho một doanh nghiệp, chẳng hạn như cơ sở dữ liệu về danh sách khách hàng; bí mật thương mại thậm chí gồm cả chiến lược quảng cáo và quy trình phân phối.

Khác với bằng sáng chế, bí mật thương mại về lý thuyết được bảo vệ vô thời hạn và không cần thủ tục đăng ký gì. Tuy nhiên, bí mật thương mại thường dễ bị lộ và việc bảo vệ bí mật thương mại thì phải trả tiền. Trường hợp tốt nhất là các công ty phải hạn chế sự ra vào văn phòng và sự tiếp cận với các tài liệu, giáo dục các nhân viên chủ chốt và thanh tra chính phủ và giám sát chặt chẽ các ấn phẩm và các buổi thuyết trình về sản phẩm. Cho dù việc giữ bí mật rất tốn kém nhưng các công ty lớn chủ yếu dựa vào việc giữ bí mật khi không xin được bằng sáng chế. Công ty càng lớn thì lại càng cần pháp luật bảo vệ bí mật thương mại.

Những công ty không thể dựa vào tòa án để bảo vệ những bí mật quan trọng thì phải dựa vào chính mình. Chẳng hạn như họ có thể hạn chế nghiêm ngặt số lượng người có thể tiếp cận các thông tin cạnh tranh quan trọng. Tương tự như vậy, thông tin cần thiết cho những hoạt động quan trọng sẽ chỉ được tiết lộ khi bí mật thương mại được bảo vệ đầy đủ. Nếu không thì chỉ đào tạo trên mức cần thiết một số rất ít nhân viên để làm những nhiệm vụ lắp ráp không đòi hỏi chuyên môn cao.

Nhãn hiệu

Nhãn hiệu là chỉ số chỉ dẫn thương mại, là dấu hiệu phân biệt để xác định một loại hàng hóa hay dịch vụ do một cá nhân hay công ty cụ thể sản xuất hoặc cung cấp. Tại các làng xã, thợ chữa giày dùng tên của mình để làm chức năng này. Nhãn hiệu đặc biệt quan trọng khi người sản xuất và tiêu dùng ở cách xa nhau. Trẻ nhỏ đòi mua búp bê Barbie, đồ chơi lắp ghép Lego và xe ô tô đồ chơi Hot Wheel. Một số người lớn mơ ước chiếc xe Ferrari, nhưng đa số đều có thể mua xe hơi hiệu Honda hay Toyota. Những khách hàng này cần nhãn hiệu để tìm kiếm hay né tránh hàng hóa và dịch vụ của các công ty khác.

Ở hầu hết các nước trên thế giới, nhãn hiệu cần phải được đăng ký thì mới có thể bảo hộ được và việc đăng ký cần phải được gia hạn. Thế nhưng trong khi bản quyền và bằng sáng chế tự hết hạn thì tên của công ty phục vụ khách hàng tốt sẽ ngày càng trở nên có giá. Nếu giả sử nhãn hiệu cũng bị hết hạn thì khách hàng cũng bị thiệt hại chẳng kém gì người sở hữu nhãn hiệu. Chúng ta thử tưởng tượng sẽ hỗn loạn như thế nào khi các công ty vô danh lại bán sản phẩm của mình với nhãn hiệu của công ty khác. Và chúng ta hãy thử xem xét trường hợp chất lượng đáng ngờ của tân dược giả và những điều tệ hại, thậm chí là tử vong, có thể xảy ra khi người sử dụng không hề nghi ngờ gì về chất lượng của thuốc.

Việc bảo hộ nhãn hiệu cũng được sử dụng rộng rãi trong các môn thể thao và ước tính chiếm tới 2,5% giá trị thương mại toàn cầu. Chẳng hạn như hầu hết nguồn tài trợ cho các kỳ Thế vận hội Olympic không phải là từ các chương trình truyền hình có bản quyền mà là từ việc mua bán các quyền được nhãn hiệu bảo hộ.

Lúc đầu, người mua những sản phẩm mang tên hay biểu trưng của các đội thể thao hay sự kiện nổi tiếng có thể cho rằng là không có sự liên hệ nào giữa sản phẩm với đội thể thao hay sự kiện, và đội thể thao không bảo đảm cho chất lượng của sản phẩm, ví dụ như chiếc mũ lưỡi trai chơi bóng chày có in biểu tượng của đội. Nhưng càng ngày khách hàng càng cho rằng có sự liên quan giữa sản phẩm và đội thể thao. Tính tới thời điểm năm 1993, chỉ riêng các đội bóng chày của Mỹ đã cấp phép sử dụng nhãn hiệu của họ cho số hàng hóa trị giá tới 2,5 tỷ đô-la.

Các loại sở hữu trí tuệ khác

Trong số các hình thức sở hữu trí tuệ cơ bản còn có rất nhiều loại hình bảo hộ đa dạng và đặc biệt. Ví dụ như các chỉ dẫn địa lý cho chúng ta biết được một loại sản phẩm có xuất xứ từ một địa phương mà tên địa lý của vùng gắn chặt với chất lượng, danh tiếng hay đặc trưng của sản phẩm đó. Một số nước bảo hộ riêng chỉ dẫn địa lý cho hàng hóa như rượu cô-nhắc của Pháp hay rượu whisky của Scotland. Ở Hoa Kỳ, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cùng với dấu hiệu và dấu hiệu chứng nhận. Chỉ dẫn địa lý được coi là một bộ phận của nhãn hiệu nhằm giúp khách hàng không bị nhầm lẫn và giúp bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp. Tương tự như vậy, các vận động viên và người biểu diễn nổi tiếng ở Hoa Kỳ có thể cấp phép hoặc cấm việc gian lận hay sử dụng tên và hình ảnh của mình vì mục đích thương mại sai trái. Dựa trên nhãn hiệu hay các quyền quảng cáo chưa hoàn thiện có liên quan, những người nổi tiếng thường kiếm được nhiều tiền hơn từ việc cho phép dùng tên và hình ảnh của mình hơn là từ những hoạt động dựa vào danh tiếng của họ.

Tương tự như vậy, kiểu dáng mỹ thuật hay kiểu dáng trang trí của các đồ điện, ghế và các vật dụng khác cũng được bảo hộ theo nhiều cách khác nhau. Nhiều kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ ở Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc như đối với sáng chế về kiểu dáng. Các nước khác đặc biệt là ở châu Âu còn có các loại hình bảo hộ tương tự như bản quyền. Ở Hoa Kỳ, các tác phẩm có kiểu dáng mỹ thuật thuần túy như đồ trang sức hay các mẫu vải có thể áp dụng cho các loại sợi được bảo hộ bằng bản quyền. Ngoài ra, Hoa Kỳ còn bảo hộ theo luật định hai loại hình đặc biệt là các giống cây trồng mới, kiểu thân tàu độc đáo và con chíp máy tính. Kiểu dáng chỉ nhằm mục đích chỉ rõ nguồn gốc thương mại có thể được bảo hộ theo luật về nhãn hiệu.

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐANG NỔI LÊN: TÊN MIỀN TRÊN INTERNET

Nhu cầu về các loại hình sở hữu trí tuệ mới đôi khi nảy sinh và việc chuyển nhượng địa chỉ trên Internet đã đặt ra những vấn đề thực sự khó khăn. Giống như số điện thoại, địa chỉ Internet có dạng cơ bản “123.456.123’. Nếu chỉ có vậy thôi thì đã chẳng có vấn đề gì.

Cho tới nay vẫn chưa có các thư mục hữu dụng nên hầu hết các địa chỉ đều có kiểu kết hợp cả chữ lẫn số như “BBC.uk”, “BBC.com”, hay ‘yale.edu”. Phần đặc trưng của mỗi địa chỉ (“BBC” hoặc “Yale”) được đăng ký là “tên miền”. Cũng giống như địa chỉ thư báo xác định địa điểm duy nhất trên thực tế, tên miền xác định địa điểm duy nhất trong “không gian mạng”.

Một vài tổ chức quản lý việc đăng ký, gia hạn và chuyển nhượng tên miền tùy theo phần cuối của các địa chỉ gồm chữ và số. Những địa chỉ kết thúc bằng mã quốc gia là “fr” hay “uk” sẽ chịu sự điều chỉnh tương ứng của luật Pháp và luật Anh. Những địa chỉ kết thúc bằng “edu” theo thỏa thuận với Bộ Thương mại Hoa Kỳ sẽ do Educause, một tổ chức phi chính phủ Hoa Kỳ, quản lý. Những địa chỉ kết thúc bằng “com” và một số chữ khác sẽ được truy cập toàn cầu. Những địa chỉ này, cũng theo thỏa thuận với Bộ Thương mại Hoa Kỳ, được điều chỉnh bằng quy định của Công ty Internet chỉ định Tên và Số (ICANN).

Do tên miền thường chứa tên, nhãn hiệu và những thứ tương tự của các công ty hay các danh nhân nên ít người coi tên miền là địa chỉ thuần túy. Khi Internet mới ra đời, người ta đã nhanh chóng biết rằng các tên miền có đuôi “.com” được đăng ký để bán với số phí khổng lồ. Chẳng hạn như một hãng du lịch đăng ký tên miền là “Barcelona.com”, một hành động bị thành phố Barcelona ở Tây Ban Nha lên án và sau đó thành phố tiếp tục khiếu nại lên cấp cao hơn để giành lại tên miền này. Người sở hữu các tên miền có ý định chọn tên miền với mục đích gây liên tưởng trái phép bị kết tội “chiếm dụng không gian mạng trái phép”. Ngay sau đó, người ta phải thiết lập các quy trình nhằm ngăn chặn những việc đăng ký tên miền sai trái hay việc tên miền của mình bị chuyển cho người khác khi khiếu nại lên cấp cao hơn về tính hợp pháp của tên miền.

Tuy nhiên trong những trường hợp dễ dàng nhất thì việc chuyển một tên miền cho người khác cũng tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc. Nhiều địa chỉ cũng có thể do cùng một người hay công ty gợi ý tài trợ một cách sai trái. Kinh nghiệm cho thấy rằng hủy bỏ những tên miền này là chưa đủ nếu như những người khác lại có thể tiếp tục đăng ký tên miền đó. Nhưng duy trì việc đăng ký hàng trăm các địa chỉ giả mạo cũng rất tốn kém.

Những vấn đề này đã được hạn chế bằng cách đưa ra những hình phạt dân sự và hình sự nghiêm khắc đối với những người chiếm dụng không gian mạng trái phép. Tuy nhiên, vẫn còn một số trường hợp chưa xử lý được và chúng ta cần có nhiều biện pháp hơn thì mới ngăn chặn được những hành động gây hại cho người sử dụng máy tính trên toàn thế giới.

CÓ RẤT NHIỀU VẤN ĐỀ VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Cho dù những công ước đầu tiên bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ – Công ước Paris về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp và Công ước Berne bảo vệ các tác phẩm văn học và nghệ thuật – đã được ký kết từ những năm 1880 nhưng sự phối hợp giữa các nước trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho tới nay vẫn chưa đầy đủ.

Vấn đề quyền sở hữu trí tuệ lần đầu tiên được đưa ra thảo luận tại các Vòng đàm phán Uruguay của GATT (Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch) từ năm 1986 đến 1993 với Hiệp định về Quyền sở hữu trí tuệ liên quan tới thương mại (TRIPS). Hiệp định TRIPS yêu cầu các nước tham gia ký kết tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công dân nước mình và công dân nước khác trong việc nắm bắt và thực thi quyền sở hữu trí tuệ cho dù Hiệp định này không quy định về tên miền như đã nêu ở trên.

Các quốc gia ký kết Hiệp định TRIPS cần phải biết rằng nếu luật sở hữu trí tuệ của họ, trên văn bản, có vẻ như ủng hộ phát minh và bảo vệ sở hữu trí tuệ nhưng trên thực tế lại không như vậy thì họ sẽ chẳng thu được gì ngoài những lời chỉ trích giễu cợt. Ngược lại, những biện pháp ít tốn kém nhằm đảm bảo, chuyển giao và thực thi quyền sở hữu trí tuệ sẽ thúc đẩy được phát triển văn hóa, nâng cao mức sống và cải thiện an sinh và y tế cộng đồng.

Mặc dù việc thực thi hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ chủ yếu đã đem lại những kết quả kinh tế quan trọng nhưng nó cũng giúp đạt được một số những mục tiêu xã hội khác. Bằng cách tạo ra cơ hội cho các công ty dược phẩm bù đắp những khoản đầu tư trong nghiên cứu, việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ có thể giúp loại bỏ những nguy cơ về các loại bệnh hiểm nghèo. Ngoài việc thúc đẩy phát minh ra các công nghệ mới thì luật về nhãn hiệu và bằng sáng chế còn giúp ngăn chặn những tác hại nghiệm trọng do nạn hàng giả gây ra. Chẳng hạn như những người chủ tâm đánh tráo các sản phẩm y tế bằng cách gắn nhãn mác giả có thể không màng tới việc những sản phẩm y tế đó không có tác dụng hay thậm chí có hại cho người sử dụng không hề mảy may nghi ngờ chất lượng của dược phẩm.

Nền văn hóa của các quốc gia cũng bị đe dọa. Những tác phẩm của các họa sỹ, nhà văn, nhạc sỹ và những người sáng tác khác thường được hỗ trợ bằng những cách tương đối độc lập với nhu cầu vốn rủi ro của cá nhân. Tuy nhiên, dù việc này có thực đi chăng nữa thì những tác phẩm này cũng thường không thể cạnh tranh nổi trước việc mua bán bất hợp pháp những bản nhạc, bộ phim hoặc sách báo một cách rẻ mạt hay miễn phí có xuất xứ từ nước ngoài. Những tác phẩm này sẽ có giá bán cao hơn rất nhiều nếu bản quyền đối với những tác phẩm nói trên được thực thi.

Những ai trên khắp thế giới quan tâm tới việc gìn giữ và phát triển văn hóa cũng như là vấn đề nâng cao chăm sóc y tế và phát triển kinh tế đều nên hiểu rằng việc bảo hộ sở hữu trí tuệ sẽ giúp đạt được những mục tiêu trên như thế nào.

(MKLAW FIRM: sưu tầm)

2. Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh

Bí mật kinh doanh (BMKD) là một loại tài sản trí tuệ rất có giá trị vì nó tạo ra lợi thế riêng của chủ sở hữu BMKD so với các đối thủ cạnh tranh khác. Theo Điều 39 của Hiệp định TRIPs (Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ – SHTT), việc bảo hộ quyền SHTT đối với thông tin bí mật (TTBM) là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc đối với các quốc gia thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới nhằm tạo dựng và phát triển các quan hệ thương mại lành mạnh và bình đẳng.

Ở nước ta, việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) đối với BMKD được ghi nhận tại Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT) và một số văn bản hướng dẫn thực hiện Luật SHTT. Tuy nhiên, so với quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng như pháp luật của nhiều nước trên thế giới, pháp luật nước ta về bảo hộ BMKD vẫn chưa đầy đủ, đang bộc lộ những hạn chế nhất định cần tiếp tục hoàn thiện.

1. Thực trạng pháp luật về bảo hộ bí mật kinh doanh

Theo quy định của các văn bản pháp luật hiện hành, việc bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD tập trung vào một số nội dung cơ bản sau:

1.1. Phạm vi và điều kiện bảo hộ

Phạm vi bảo hộ

Tại Việt Nam, BMKD là đối tượng của quyền SHCN được pháp luật bảo hộ theo Khoản 1, Điều 750 Bộ luật Dân sự năm 2005. Theo đó, BMKD là “thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh” (Khoản 23, Điều 4 Luật SHTT). Tuy nhiên, không phải bất cứ TTBM nào cũng được bảo hộ. Điều 85 của Luật SHTT đưa ra danh mục các loại thông tin không được bảo hộ với danh nghĩa BMKD bao gồm: “1. Bí mật về nhân thân; 2. Bí mật về quản lý nhà nước; 3. Bí mật về quốc phòng, an ninh; 4. Thông tin bí mật khác không liên quan đến kinh doanh”.

Như vậy, trong pháp luật Việt Nam đã có khái niệm BMKD; tuy nhiên, khái niệm này vẫn còn chung chung, chưa làm rõ phạm vi các thông tin được bảo hộ. Điều này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau. Có quan điểm cho rằng, BMKD đơn thuần là các thông tin về các hoạt động kinh doanh của các chủ thể. Quan điểm khác lại xác định BMKD bao gồm cả các thông tin về khoa học kỹ thuật, thông tin về các hoạt động kinh doanh của chủ thể… Khác với Việt Nam, pháp luật các nước thường quy định tương đối rõ ràng về vấn đề này. Ví dụ: theo Khoản 4, Điều 1, Luật Bí mật thương mại hợp nhất của Mỹ năm 1979 (1), khái niệm “bí mật thương mại” đã được giải thích tương đối cụ thể, thuận lợi cho việc áp dụng trên thực tế: “Bí mật thương mại là các thông tin bao gồm công thức, mẫu hình, sưu tập các thông tin, chương trình, phương sách, biện pháp, công nghệ hoặc quy trình”.

Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh

Luật sư tư vấn Luật sở hữu Trí tuệ qua điện thoại (24/7) gọi số: 0986.386.648

Điều kiện bảo hộ đối với bí mật kinh doanh

Quyền SHCN đối với BMKD phát sinh khi BMKD đáp ứng được các điều kiện do pháp luật quy định. Vì vậy, việc xác định các điều kiện bảo hộ đối với BMKD là rất quan trọng. Theo quy định của Điều 84 Lut SHTT, BMKD sẽ được bảo hộ khi đáp ứng các điều kiện sau: không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được; khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng BMKD đó; được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để BMKD đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được.

Ngoài ra, theo tinh thần của Điều 8 Luật SHTT, thì các BMKD trái với đạo đức xã hội, xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh sẽ không được pháp luật Việt Nam bảo hộ.

Về cơ bản, các điều kiện bảo hộ theo quy định của pháp luật nước ta đã thể hiện được ba đặc điểm chính của BMKD là: tính bí mật; có giá trị; và được chủ sở hữu bảo mật. Tuy nhiên, so sánh với quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, chúng ta thấy có một số điểm khác biệt như:

- Theo Điều 39 của Hiệp định TRIPs, một trong các điều kiện quan trọng để TTBM được bảo hộ là phải có giá trị thương mại (commercial value). Cụ thể, Khoản 2, Điều 39 Hiệp định TRIPs quy định thông tin được bảo hộ phải đáp ứng các điều kiện: “có tính chất bí mật nghĩa là các thông tin đó không phổ biến hoặc không dễ dàng tiếp cận thông tin đó dưới dạng thông tin toàn bộ, tức là dưới dạng ghép nối theo trật tự chính xác mọi chi tiết của thông tin đó đối với những người thường xuyên giải quyết với các loại thông tin như vậy; có giá trị thương mại vì nó có tính chất bí mật, và được người kiểm soát hợp pháp thông tin đó giữ bí mật bằng các biện pháp hợp lý”.

Điều 9, Chương 2 Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ cũng quy định tương tự. Như vậy, pháp luật Việt Nam chưa thể hiện đầy đủ nội dung này. Trên thực tế, giá trị thương mại của TTBM được tạo ra bởi nhiều yếu tố, trong đó “lợi thế” mà TTBM mang lại cho người nắm giữ nó chỉ là một trong các yếu tố quan trọng làm nên giá trị thương mại của thông tin.

- Cũng theo Khoản 2, Điều 39 của Hiệp định TRIPs, thông tin được bảo hộ khi “không phổ biến, không dễ dàng tiếp cận” không phải là đối với mọi chủ thể mà chỉ đối với “những người thường xuyên giải quyết đối với các loại thông tin như vậy”. Điều này có nghĩa, ngay cả những người thường xuyên tiếp xúc, xử lý thông tin đó, thì đối với họ, những thông tin như vậy vẫn là loại thông tin không phổ biến, hay có thể gọi là thông tin “hiếm”. Quy định trên của Hiệp định TRIPs có ý nghĩa quan trọng trong việc ngăn cản việc bảo hộ quá rộng đối với các loại thông tin khác tồn tại trên thực tế. Tuy nhiên, nội dung này của Hiệp định TRIPs lại chưa được pháp luật Việt Nam thể chế hóa đầy đủ, rõ ràng.

Ngoài ra, pháp luật nước ta cũng chưa nêu cụ thể các biện pháp bảo mật mà chủ sở hữu BMKD được quyền áp dụng; những tiêu chuẩn để xác định những lợi thế mà BMKD mang lại cho chủ sở hữu dẫn đến việc xác định BMKD được bảo hộ trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn.

1.2. Thời điểm làm phát sinh, chấm dứt quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh

Khác với các đối tượng khác của quyền SHCN, quyền SHCN đối với BMKD của các chủ sở hữu không được xác lập thông qua hình thức cấp văn bằng bảo hộ mà được bảo hộ “tự động”. Có nghĩa là quyền SHCN đối với BMKD sẽ phát sinh khi đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật mà không cần thông qua bất cứ một thủ tục đăng ký nào. “Quyền SHCN đối với BMKD được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp BMKD và thực hiện việc bảo mật BMKD đó” (điểm c, Khoản 3, Điều 6 Luật SHTT). Điều này hoàn toàn phù hợp với tính chất đặc thù của BMKD cũng như các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Tuy nhiên, thời điểm chấm dứt quyền SHCN đối với BMKD lại chưa được pháp luật Việt Nam đề cập tới dẫn đến nhiều khó khăn cho việc giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến BMKD.

1.3. Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu bí mật kinh doanh

Quyền của chủ sở hữu bí mật kinh doanh

Theo Điều 123 Luật SHTT, chủ sở hữu BMKD có các quyền:

Thứ nhất, sử dụng, cho phép người khác sử dụng BMKD. Được coi là “sử dụng” BMKD khi chủ thể thực hiện một trong các hành vi được quy định tại Điều 124 Luật SHTT, bao gồm: áp dụng BMKD để sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ, thương mại hàng hoá; bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu sản phẩm được sản xuất do áp dụng BMKD;

Thứ hai, ngăn cấm người khác sử dụng BMKD. Chủ sở hữu BMKD không có quyền ngăn cấm người khác thực hiện các hành vi sau (Khoản 3, Điều 125 Luật SHTT):

- Bộc lộ, sử dụng BMKD thu được khi không biết và không có nghĩa vụ phải biết BMKD đó do người khác thu được một cách bất hợp pháp;

- Bộc lộ dữ liệu bí mật nhằm bảo vệ công chúng. Đây là trường hợp bộc lộ các kết quả thử nghiệm hoặc các dữ liệu liên quan đến việc lưu hành các dược phẩm, các nông hoá phẩm đã được quy định cụ thể tại Điều 128 Luật SHTT.

- Sử dụng dữ liệu bí mật liên quan đến các loại dược phẩm, nông hoá phẩm không nhằm mục đích thương mại;

- Bộc lộ, sử dụng BMKD được tạo ra một cách độc lập. Trong trường hợp này người tạo ra BMKD phải chứng minh được tính “độc lập” trong việc đã tạo ra BMKD mà người đó sử dụng.

- Bộc lộ, sử dụng BMKD được tạo ra do phân tích, đánh giá sản phẩm được phân phối hợp pháp với điều kiện người phân tích, đánh giá không có thoả thuận khác với chủ sở hữu BMKD hoặc người bán hàng.

Thứ ba, định đoạt BMKD.

Nghĩa vụ của chủ sở hữu bí mật kinh doanh

Nghĩa vụ quan trọng nhất chủ sở hữu BMKD theo quy định của pháp luật Việt Nam là phải cung cấp các kết quả thử nghiệm hoặc bất kỳ dữ liệu nào khác là BMKD cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. “Trong trường hợp pháp luật có quy định, người nộp đơn xin cấp phép kinh doanh, lưu hành dược phẩm, nông hoá phẩm phải cung cấp kết quả thử nghiệm hoặc bt kỳ dữ liệu nào khác là BMKD” (Khoản 1, Điều 128 Luật SHTT). Trong trường hợp này, người phải cung cấp các kết quả thử nghiệm hoặc bất kỳ dữ liệu mật nào khác có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thực hiện các biện pháp cần thiết để giữ bí mật các thông tin đó “để các dữ liệu đó không bị sử dụng nhằm mục đích thương mại không lành mạnh và không bị bộc lộ”. Tuy nhiên, các cơ quan có thẩm quyền sẽ không phải thực hiện nghĩa vụ trên, nếu “việc bộc lộ là cần thiết để bảo vệ công chúng”.

Như vậy, so với các quy định của Hiệp định TRIPs, quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu BMKD đã được pháp luật Việt Nam quy định tương đối cụ thể. Điều này tạo điều kiện thuận lợi để các chủ sở hữu sử dụng và khai thác hiệu quả BMKD của mình. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, vẫn có một số điểm không rõ, chưa đầy đủ, như:

- Trong các quyền của chủ sở hữu BMKD, pháp luật Việt Nam chưa đề cập tới quyền được ngăn chặn các chủ thể khác bộc lộ bất hợp pháp BMKD của mình. Trong khi đó, đây là một trong những quyền thể hiện tính đặc thù của việc bảo hộ đối với BMKD đã được Hiệp định TRIPs và pháp luật các nước quy định rất cụ thể;

- Các quy định về sử dụng BMKD chưa khái quát được tất cả các hành vi sử dụng BMKD trên thực tế;

- Về chuyển giao quyền SHCN đối với BMKD, pháp luật Việt Nam đã không quy định cụ thể về nghĩa vụ phải giữ bí mật BMKD đối với Bên chuyển giao quyền và Bên được chuyển giao. Mặt khác, pháp luật cũng chưa làm rõ việc Bên nhận được chuyển giao quyền sử dụng BMKD có được tiếp tục sử dụng BMKD đó sau khi hợp đồng chuyển giao hết hiệu lực?

- Pháp luật lao động Việt Nam chưa đề cập đến quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động đối với việc quản lý, bộc lộ, khai thác sử dụng BMKD. Nếu công việc của người lao động được phép tiếp cận đối với BMKD, thì họ có nghĩa vụ phải giữ bí mật hay không và nghĩa vụ đó tồn tại tới khi nào? Điều khoản giữ bí mật đối với BMKD có là điều khoản bắt buộc của hợp đồng lao động? Sau khi chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động có được quyền sử dụng hoặc phát triển BMKD của người sử dụng lao động?

1.4. Về hành vi vi phạm bí mật kinh doanh

Theo Khoản 1, éiều 127 Luật SHTT, hành vi vi phạm BMKD bao gồm các hành vi sau:

a) Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc BMKD bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người kiểm soát hợp pháp BMKD đó. Người kiểm soát BMKD trong trường hợp này bao gồm chủ sở hữu BMKD, người được chuyển giao hợp pháp quyền sử dụng BMKD;

b) Bộc lộ, sử dụng thông tin thuộc BMKD mà không được phép của chủ sở hữu BMKD đó (loại trừ các trường hợp ngoại lệ đã được nêu tại Khoản 3, Điều 125 Luật SHTT)

c) Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, xui khiến, mua chuộc, ép buộc, dụ dỗ, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập hoặc làm bộc lộ BMKD;

d) Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc BMKD của người nộp đơn theo thủ tục xin cấp phép kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan có thẩm quyền;

đ) Sử dụng, bộc lộ BMKD dù đã biết hoặc có nghĩa vụ phải biết BMKD đó do người khác thu được có liên quan đến một trong các hành vi vi phạm BMKD đã được pháp luật quy định;

e) Không thực hiện nghĩa vụ bảo mật đối với các cơ sở dữ liệu, kết quả thử nghiệm theo quy định của pháp luật.

Việc quy định cụ thể các hành vi vi phạm BMKD được xem là một trong những bước tiến quan trọng của pháp luật Việt NamNam tham gia, chúng ta có thể nhận thấy vẫn còn một số điểm cần bàn, như: trong thời gian gần đây. Nó có ý nghĩa thiết thực trong việc xác định chính xác và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm BMKD, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho chủ sở hữu BMKD. Tuy nhiên, so với các điều ước quốc tế mà Việt

- Pháp luật Việt Nam chưa làm rõ trách nhiệm pháp lý của Bên thứ ba. Bên thứ ba trong trường hợp này phải được hiểu là bên không có quyền chiếm giữ, sử dụng cũng như nghĩa vụ bảo mật BMKD cho chủ sở hữu nhưng lại có được BMKD từ các hành vi không trung thực như xúi giục, lôi kéo người khác tiết lộ BMKD của chủ sở hữu cho họ. Khi xem xét trách nhiệm của Bên thứ ba để xác định có hay không hành vi vi phạm BMKD, thì một vấn đề được đặt ra làm thế nào để xác định được trường hợp bên thứ ba “biết hoặc có nghĩa vụ phải biết” về việc BMKD đó là được tiếp nhận một cách bất hợp pháp? Pháp luật Việt Nam chưa có giải thích cũng như quy định các căn cứ cụ thể. Mặt khác, Điều 130 của Luật SHTT có đề cập đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực SHTT; nhưng việc Bên thứ ba xâm phạm BMKD của chủ sở hữu hoặc của người kiểm soát BMKD lại không có trong nội dung của Điều luật. Điều đó là chưa phù hợp với quy định của Hiệp định TRIPs, bởi mục đích trước tiên trong việc bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM theo quy định của Hiệp định này là tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể: “để đảm bảo việc chống cạnh tranh không lành mạnh một cách hữu hiệu… các nước thành viên phải có nghĩa vụ bảo hộ TTBM” (Khoản 1, Điều 39 Hiệp định TRIPs);.

- Các hành vi vi phạm BMKD trong lĩnh vực quan hệ lao động, trong lĩnh vực chuyển giao quyền SHTT đối với BMKD cũng chưa được pháp luật Việt Nam đề cập tới.

2. Các giải pháp hoàn thiện

Các hạn chế trên tồn tại trong pháp luật Việt Nam là khó tránh khỏiC, bởi việc bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD là một lĩnh vực còn rất mới và thực sự chưa được chú trọng tại Việt Nam. Trong một thời gian dài chúng ta mới chỉ tập trung vào một số đối tượng được xem là “nóng” của quyền SHTT, như: bản quyền, nhãn hiệu hàng hoá, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp… còn các đối tượng khác, trong đó có BMKD hầu như không được chú ý tới. Trong giai đoạn hiện nay, xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn, để bảo đảm thực hiện đúng, đầy đủ các cam kết quốc tế cũng như phù hợp với các điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD cần phải được hoàn thiện hơn nữa theo hướng tập trung vào một số nội dung chính sau:

2.1. Quy định cụ thể hơn về phạm vi và điều kiện bảo hộ

Học tập kinh nghiệm của các nước, pháp luật Việt Nam khi quy định về BMKD cần đưa ra các tiêu chí mang tính chuẩn mực để việc xác định đối tượng được bảo hộ thuận lợi và chính xác. Theo đó có thể quy định: “BMKD là các thông tin về khoa học kỹ thuật, về quy trình sản xuất, về tài chính hoặc các thông tin về các hoạt động sản xuất kinh doanh khác”. Khái niệm cụ thể này sẽ giúp chúng ta xác định được phạm vi các thông tin sẽ được pháp luật Việt Nam bảo hộ là BMKD một cách chính xác, tránh những tranh cãi không cần thiết như hiện nay.

Về điều kiện bảo hộ: Điều 84 Luật SHTT đã quy định các điều kiện chung đối với BMKD, tuy nhiên cần phải có hướng dẫn cụ thể về nội dung của từng điều kiện:

- Giải thích thế nào là một thông tin được xem là “bí mật”. Hiện nay pháp luật Việt Nam đã đưa ra hai tiêu chí: không phải là hiểu biết thông thường; không dễ dàng có được. Tuy nhiên, pháp luật cần chỉ rõ hai tiêu chí trên không phải áp dụng đối với mọi chủ thể mà chỉ áp dụng đối với những chủ thể là “người thường xuyên xử lý loại thông tin đó” như quy định tại Điều 39 của Hiệp định TRIPs.

- Để thể hiện được giá trị thương mại của BMKD, cần bổ sung thêm điều kiện để thông tin được bảo hộ là “có giá trị thương mại và khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ BMKD lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng BMKD đó”. Thêm nữa, pháp luật cần giải thích các “lợi thế” đó có thể có ở hiện tại hoặc tương lai với điều kiện hợp pháp.

- Cần hướng dẫn cụ thể về các bin pháp bảo mật có thể được chủ thể quyền áp dụng nhằm hạn chế các tranh cãi về việc đã có hay chưa các biện pháp bảo mật được coi là cần thiết? Kinh nghiệm của các nước là thường đưa ra một số biện pháp bảo mật mẫu mà chủ thể quyền có thể áp dụng để bảo mật các thông tin của mình.

2.2. Bổ sung thêm các quyền của chủ sở hữu bí mật kinh doanh

Bổ sung vào Điều 123 Luật SHTT “quyền của chủ sở hữu đối tượng SHCN” quyền được ngăn chặn các chủ thể khác bộc lộ một cách bất hợp pháp đối tượng SHCN của mình.

Ngoài các trường hợp được nêu tại Khoản 4 Điều 124, Luật SHTT cần bổ sung thêm một số hành vi sử dụng BMKD hợp pháp khác của chủ sở hữu như: góp vốn, cầm cố, thế chấp đối với BMKD.

2.3. Quy định thời điểm chấm dứt quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh

Xác định thời điểm chấm dứt quyền SHCN đối với BMKD là vô cùng quan trọng vì vấn đề này liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm pháp lý của các bên chủ thể. Do vậy, pháp luật cần quy định cụ thể về thời điểm chấm dứt quyền SHCN đối với BMKD. Căn cứ vào tính chất, đặc điểm của BMKD, thời điểm chấm dứt quyền SHCN đối với BMKD sẽ rơi vào một trong các trường hợp sau: 1) Chủ sở hữu BMKD chuyển giao quyền sở hữu đối với BMKD cho chủ thể khác; 2) BMKD không đảm bảo các điều kiện để được bảo hộ theo quy định của pháp luật, ví dụ như không còn tính bí mật hoặc không còn giá trị thương mại…; 3) BMKD đã bị tiêu huỷ.

2.4. Quy định các vấn đề liên quan đến chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh

Pháp luật về SHTT cần bổ sung các quy định về nghĩa vụ phải giữ bí mật đối với BMKD của Bên chuyển giao quyền và Bên được chuyển giao khi ký kết hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối với BMKD (nghĩa vụ này tồn tại ngay cả khi hợp đồng đã hết hiệu lực, trừ khi các bên có thoả thuận khác). Bên nhận được chuyển giao quyền sử dụng BMKD phải chấm dứt việc sử dụng BMKD đó sau khi hợp đồng chuyển giao hết hiệu lực. Tuy nhiên, nếu BMKD đã được bên nhận chuyển giao phát triển, cải tiến, thì việc sử dụng đó là hoàn toàn hợp pháp.

2.5. Quy định các vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động đối với việc quản lý, bộc lộ, khai thác bí mật kinh doanh

Để việc bảo hộ BMKD có hiệu quả, pháp luật lao động cần quy định về nghĩa vụ của người lao động đối với việc bảo mật BMKD. Người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng lao động vẫn có nghĩa vụ giữ bí mật đối với BMKD đó (các bên có thể thoả thuận về thời gian giữ bí mật đối với BMKD sau khi hợp đồng lao động chấm dứt). Để tạo điều kiện cho người lao động có thể vận dụng những kinh nghiệm mà mình có được trong công việc cũ tại nơi làm việc mới, pháp luật nên quy định người lao động có quyền sử dụng các BMKD mà mình tạo ra trong quá trình làm việc để phục vụ cho công việc trong tương lai của họ.

2.6. Quy định trách nhiệm pháp lý của bên thứ ba trong việc bộc lộ, sử dụng, chiếm đoạt BMKD của chủ sở hữu

Pháp luật cần quy định cụ thể về quyền của chủ sở hữu BMKD trong việc ngăn chặn Bên thứ ba bộc lộ, sử dụng, chiếm đoạt BMKD một cách trái phép. Trong trường hợp này phải giải thích rõ ràng “Bên thứ ba” là như thế nào và các hành vi vi phạm BMKD từ Bên thứ ba. Nếu Bên thứ ba xâm phạm BMKD của chủ sở hữu hoặc của người kiểm soát BMKD hợp pháp, thì hành vi đó phải được xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh và bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD như trên không những bảo đảm sự tương thích của pháp luật Việt Nam với các quy định của các điều ước quốc tế Việt Nam đã tham gia mà còn có tác dụng tích cực trong việc bảo hộ hiệu quả BMKD tại nước ta trong hiện tại cũng như trong tương lai.

(MKLAW FIRM: sưu tầm)

3. Về thuật ngữ sở hữu trí tuệ trong luật khoa học và công nghệ

Thuật ngữ sở hữu trí tuệ (SHTT) được dùng nhiều lần trong Luật Khoa học và Công nghệ (KH&CN), nhưng có thể có những cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này, bởi vậy phải bàn về cách sử dụng thuật ngữ SHTT và các thuật ngữ khác có liên quan đến SHTT trong Luật KH&CN (sau đây gọi tắt là Luật) thiết nghĩ là một việc nên làm.

1. “Công nghệ ngược” có thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật không?

Luật định nghĩa: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”. Từ định nghĩa này, có thể đặt câu hỏi: quá trình từ sản phẩm mà tìm ra các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện… thì có gọi là “công nghệ” không? Trong lĩnh vực SHTT người ta gọi quá trình này là Reverse Engineering[2] (tạm dịch là “công nghệ ngược”), nó có liên quan đến 2 đối tượng được bảo hộ quyền SHTT là sáng chế và bí mật kinh doanh.

Phải bàn đến “công nghệ ngược”, bởi lẽ một giải pháp kỹ thuật được bảo hộ là sáng chế thì hành vi dùng “công nghệ ngược” để tìm ra các kỹ năng, bí quyết… của quy trình hay sản phẩm là hành vi bất hợp pháp. Nhưng mọi thông tin có liên quan đến công nghệ được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh thì hành vi dùng “công nghệ ngược” để tìm ra các kỹ năng, bí quyết… của quy trình hay sản phẩm lại là hành vi hợp pháp.

Bởi vậy, “công nghệ ngược” có thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật hay không là một việc nên xem xét, còn gọi cụ thể nó là thì cần một nghiên cứu khác sâu hơn.

Luật sư tư vấn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Luật sư tư vấn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Gọi: 0986.386.648

2. Xác định các sản phẩm của quá trình nghiên cứu khoa học

Luật định nghĩa: “Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng”.

Theo các quy định về SHTT thì các sản phẩm của hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy là các tác phẩm khoa học (ví dụ phát minh khoa học), chúng được bảo hộ theo cơ chế quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản[3]. Còn các sản phẩm của quá trình sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn có thể được bảo hộ dưới dạng sáng chế, bí mật kinh doanh, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng…

Việc bảo hộ quyền SHTT đối với các sản phẩm của quá trình nghiên cứu khoa học nói trên theo quy định của Luật SHTT rất khác nhau. Bởi vậy việc xác định các sản phẩm cụ thể của quá trình nghiên cứu khoa học như những đối tượng điều chỉnh của Luật là một việc nên làm.

3. Tổ chức khoa học và công nghệ

Theo điều 9.1 của Luật, thì các tổ chức KH&CN bao gồm:

a) Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;[4]

b) Trường đại học, học viện, trường cao đẳng;

c) Tổ chức dịch vụ KH&CN.

Trong các tổ chức trên thì Tổ chức dịch vụ KH&CN được hoạt động dịch vụ KH&CN, đó là “các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến SHTT, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức KH&CN và kinh nghiệm thực tiễn”.

Mặc dù tiến hành các hoạt động liên quan đến SHTT, nhưng cần nhấn mạnh rằng các hoạt động này của Tổ chức dịch vụ KH&CN không tạo ra các sản phẩm là các đối tượng được bảo hộ quyền SHTT. Dẫn đến việc quy định Tổ chức dịch vụ KH&CN “Được bảo hộ quyền SHTT;…” tại điều 15.4 của Luật là không chính xác. Quy định này chỉ đúng với trường hợp Tổ chức KH&CN là Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trường đại học, học viện, trường cao đẳng.

Bởi vậy, cần quy định lại mục 1 chương II của Luật hoặc cần có quy định loại trừ tại điều 15.4 của Luật.

4. Giá trị quyền sở hữu trí tuệ đã là một loại tài sản

Khi nói về quyền của tổ chức KH&CN, quyền của cá nhân hoạt động KH&CN tại các điều 15.3 và 17.4, Luật quy định được“… góp vốn bằng tiền, tài sản, giá trị quyền SHTT để tiến hành hoạt động khoa học và công nghệ và hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật”.

SHTT trong tiếng Anh là Intellectual Property, vì vậy bản chất quyền SHTT đã là một dạng quyền tài sản. Theo các quy định của pháp luật thì tài sản gồm có tài sản hữu hình (động sản và bất động sản), tài sn vô hình (trong đó có tài sản trí tuệ). Như vậy tài sản trí tuệ là một bộ phận của tài sản nói chung, vì thế khi viết “… góp vốn bằng tiền, tài sản, giá trị quyền SHTT…” là chưa thật chính xác [5].

Bởi vậy, có lẽ cần chỉnh lại các quy định tại các điều 15.3 và 17.4 của Luật cho chính xác.

5. Quyền sở hữu, quyền tác giả hay quyền của chủ sở hữu, quyền của tác giả?

Điều 26 của Luật viết: “Quyền sở hữu, quyền tác giả đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: 1. Tổ chức, cá nhân đầu tư cho việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện công trình KH&CN là tác giả của công trình đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác trong hợp đồng KH&CN”.

Trong lĩnh vực SHTT, quyền SHTT bao gồm 3 nhóm:

1. “Quyền tác giả” đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học;

2. “Quyền sở hữu công nghiệp” đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh;

3. “Quyền đối với giống cây trồng”.

Khi dùng thuật ngữ “quyền tác giả” tại điều 26 rất dễ nhầm lẫn rằng Luật chỉ điều chỉnh các sản phẩm nghiên cứu khoa học thuộc nhóm 1, trong khi đó các sản phẩm nghiên cứu khoa học có thể thuộc cả 3 nhóm trên. Cũng cần nói thêm rằng quyền tác giả và quyền của tác giả, quyền sở hữu và quyền của chủ sở hữu là các thuật ngữ rất khác nhau.

Bởi vậy, nên sửa lại phần mở đầu điều 26 của Luật là Quyền của chủ sở hữu, quyền của tác giả đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

Nhân đây cũng nên bàn thêm là, nếu chủ sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đầu tư cho việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN thì tác giả cũng đầu tư để thực hiện công trình KH&CN, nhưng tác giả thì đầu tư trí tuệ, còn chủ sở hữu thì đầu tư tài chính, cơ sở vật chất… để tạo ra sản phẩm. Bởi vậy, điều 26.1 của Luật nên viết lại là “Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính, cơ sở vật chất cho việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ…”.

Trên đây là một số góp ý có liên quan đến thuật ngữ SHTT được dùng trong Luật KH&CN để hoàn thiện Luật. Tác giả không có ý muốn dùng Luật SHTT để điều chỉnh Luật KH&CN, nhưng cần phải hiểu chính xác thuật ngữ SHTT và một số thuật ngữ khác có liên quan đến SHTT là một việc cần thiết.,.

(MKLAW FIRM: sưu tầm)

4. Nên có toàn án chuyên về sở hữu trí tuệ

Xu thế “san phẳng thế giới” trên các lĩnh vực pháp luật đã khiến thói quen bảo vệ tài sản tư, tạo lợi thế cạnh tranh từ tài sản trí tuệ trong xã hội phương Tây từng bước xuất hiện trong các văn bản pháp luật nước ta. Bộ luật Dân sự 2005, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và nhiều văn bản pháp luật kế tiếp đều mang “hơi thở” của xu hướng đó.

Pháp luật sở hữu trí tuệ với chức năng là nền tảng pháp lý bảo vệ các tài sản trí tuệ đang được hoàn thiện và giữ vai trò quan trọng đảm bảo lợi ích của các tri thức có tài sản tư. Những quy định xác lập quyền, cơ chế bảo vệ và thực thi trong pháp luật sở hữu trí tuệ dần khắc phục tình trạng nhiều tài sản bị “lấy đi” dễ dàng. Tuy nhiên, trước tình cảnh các ca sĩ và nhà đầu tư tranh giành quyền lợi, các công ty ra sức bảo vệ nhãn hiệu, kiểu dáng, sáng chế, người ta vẫn thấy rằng ước mơ công lý của người có tài sản trí tuệ vẫn còn xa lạ.

Khi nhận thấy sự sáng tạo bị xâm phạm, người có tài sản trí tuệ thường lên tiếng phản đối để đòi lại công bằng. Họ thường phối hợp với cơ quan hành chính hoặc tìm đến tòa án dân sự. Nhưng với đặc thù phức tạp, mang tính chuyên môn cao nên nhiều khi các cơ quan hành chính và tòa án dân sự, vốn còn nhiều mặt hạn chế, vẫn không thể giải quyết thỏa đáng.

Khi gặp trường hợp khó, các cơ quan này thay vì phải giải quyết rốt ráo thì lại thường “đá” cho nhau. Khi đó người có tài sản trí tuệ cứ loay hoay không biết quyền lợi hợp pháp của mình có được bảo vệ hay không. Bởi thế, khi kinh tế phát triển, các tranh chấp về sở hữu trí tuệ gia tăng, người dân mong có tòa án đủ năng lực để xét xử các tranh chấp về sở hữu trí tuệ.

>> Luật sư tư vấn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Gọi: 0986.386.648

Luật sư Lê Minh Trường tham gia chương trình 60 phút mở trên VTV6

Pháp luật sở hữu trí tuệ của nước ta hướng đến việc khuyến khích sáng tạo, thi hành đủ các loại quyền tài sản trí tuệ và đủ sức bảo vệ người có quyền đó. Từ việc bảo vệ quyền của giới văn nghệ sĩ, cho tới bảo vệ độc quyền nhãn hiệu, sáng chế của người làm khoa học. Thậm chí quyền của người sử dụng trước tài sản trí tuệ cũng được bảo hộ một cách đầy đủ. Theo điều 134 Luật Sở hữu trí tuệ, nếu được tạo ra một cách độc lập, người sử dụng tài sản trí tuệ trước sẽ không thể bị người có văn bằng bảo hộ coi là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Tuy nhiên, trong bối cảnh không thật sự bình đẳng giữa các cơ quan hành chính và người dân, cộng thêm sự lúng túng của những người không chuyên, nhiều khi các bằng chứng bảo vệ lợi ích hợp pháp của người có tài sản trí tuệ lại bị lãng quên. Do đó, khi tranh chấp sở hữu trí tuệ xảy ra, ước mơ công lý của người dân tại cơ quan hành chính và tại các tòa án không chuyên trở nên xa vời. Chính vì vậy, tòa án chuyên về sở hữu trí tuệ với đầy đủ năng lực sẽ góp phần đưa ra những phán quyết chính xác, giải quyết được tận gốc rễ các xâm phạm về sở hữu trí tuệ.

Tòa án chuyên về sở hữu trí tuệ càng cần thiết hơn khi việc cấp giấy chứng nhận quyền tác giả không trải qua thẩm định chặt chẽ của cơ quan công quyền. Giới văn nghệ sĩ và những người có sức sáng tạo đưc hưởng quyền tác giả khi tác phẩm ra đời mà không cần đơn yêu cầu công nhận. Đủ thủ tục, không thiếu hồ sơ, người dân có thêm giấy chứng nhận bảo hộ quyền tác giả và được hưởng sự bảo hộ đầy đủ của pháp luật. Tác phẩm được đăng ký thành công, được cấp giấy chứng nhận thì người chủ tác phẩm có đủ căn cứ pháp lý để thể hiện quyền tài sản của mình.

Thế nhưng, thiếu đi cơ chế thẩm định trước khi cấp giấy chứng nhận, những tác phẩm bắt chước cứ đua nhau được xác lập giấy chứng nhận. Một tác phẩm được cấp giấy chứng nhận quyền tác giả từ năm 2008 có thể chỉ với những thay đổi không đáng kể về hình thức, tên gọi lại được tiếp tục cấp giấy chứng nhận trong năm 2009.

Công lý trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ chỉ có thể đạt được nếu có tòa án đề cao quyền sở hữu trí tuệ và có thẩm phán đủ năng lực chuyên môn. Quyền tài sản trí tuệ không được bảo vệ, hành vi xâm phạm tràn lan, thì niềm tin của các nhà đầu tư cũng sẽ sụt giảm. Nếu như nhiều nước có tòa án chuyên về sở hữu trí tuệ và tạo ra một môi trường đầu tư – thương mại hiệu quả, thì Việt Nam cũng có thể mong những điều tương tự. Trước tình trạng ăn cắp bản quyền, hàng giả khắp nơi, người ta càng không thể không lo. Vì lẽ đó, cho ra đời sớm một hệ thống tòa án chuyên xét xử về sở hữu trí tuệ là việc làm cần thiết để khuyến khích sự sáng tạo của mỗi người dân.

(MKLAW FIRM: sưu tầm)

5. Sở hữu trí tuệ trong xuất bản

Từ năm nay, các tập đoàn xuất bản nước ngoài được tổ chức tự phát hành sách của mình thông qua một công ty mở tại Việt Nam. Khi đó, không cần bán tác quyền họ vẫn có thể tổ chức dịch, phát hành trên toàn Việt Nam. Lĩnh vực xuất bản vốn rất nhạy cảm với vấn đề sở hữu trí tuệ. Luật thì đã có từ lâu. Nhưng thực tế, tình hình vi phạm bản quyền trong lĩnh vực này vẫn chưa được cải thiện là bao!

Những kẽ hở “đau”

Năm 2008, vụ tranh chấp về quyền tài sản giữa công ty Phan Thị và công ty Lê Linh đối với hình vẽ nhân vật Long Tinh trong bộ truyện tranh Long Thánh khi bộ sách này được công bố đã khiến dư luận chú ý. Xuất phát từ cùng một tác giả là họa sĩ Lê Linh, hai mẫu hình nhân vật truyện tranh: Trạng Tý (trong “Thần đồng đất Việt” của công ty Phan Thị) và Long Tinh (trong “Long Thánh” của công ty Lê Linh) được cáo buộc là có những nét giống nhau, với đơn khiếu kiện từ Phan Thị cho rằng: Lê Linh đã sử dụng hình ảnh Trạng Tý để làm ra tác phẩm phái sinh là Long Tinh. Theo pháp luật về sở hữu trí tuệ, đây là hành vi vi phạm quyền tài sản đối với công ty Phan Thị.

Tuy nhiên, phía Lê Linh lại cho rằng, do cùng một tác giả nên Long Tinh chỉ giống Trạng Tý về phong cách vẽ, và hình mẫu Long Tinh cũng đã được đăng ký quyền tác giả tại Cục Bản quyền tác giả.

Việc hạn chế hành vi đánh cắp ý tưởng từ các tác phẩm còn quá xa vời.

Sở hữu trí tuệ trong xuất bản

Luật sư tư vấn Luật sở hữu Trí tuệ qua điện thoại (24/7) gọi số: 0986.386.648

Ở khía cạnh khác, khi có một vụ tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ xảy ra, phía nguyên đơn còn có thể khiếu kiện theo các điều luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Luật cạnh tranh. Trong khi đó, theo giáo sư, tiến sĩ, luật sư Nguyễn Vân Nam thì Luật cạnh tranh của Việt Nam không định nghĩa thế nào là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Điều này tạo ra khả năng các bên bị vi phạm quyền sở hữu trí tuệ vì quyền lợi liên quan đến kinh doanh sẽ sử dụng Luật Cạnh tranh để kiện bên vi phạm. Trở lại vụ truyện tranh trên, việc thúc thủ của công ty Lê Linh là một minh chứng.

Trong khi đó, Luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam cũng có những chỗ chưa chặt chẽ, chẳng hạn không nêu ra định nghĩa về “chủ sở hữu quyền tác giả”, trong khi đó Luật quy định quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Luật lại cũng không định nghĩa thế nào là quyền tài sản, mà chỉ quy định 6 loại hình quyền tài sản. Điều này khiến cho trong một số trường hợp, các đồng tác giả xung đột nhau về quyền tài sản, về vai trò chủ sở hữu quyền tác giả mà không biết dựa vào điều luật nào để được bảo hộ.

Thực thi yếu, hội nhập kém

Trong khi Luật sở hữu trí tuệ được áp dụng và có vai trò quan trọng trong xuất bản, việc bảo đảm thực thi luật này trong giới làm sách lại tỏ ra rất mong manh. Bằng chứng là số lượng các vụ in lậu, vi phạm tác quyền lẫn nhau vẫn không giảm, tính chất các vụ vi phạm cũng cho thấy Luật chưa chế tài được. Cuối năm 2008, NXB Trẻ đã công khai họp báo và công bố 47 đầu sách bị in lậu từ năm 2007 đến năm 2008 mà “không có cách nào ngăn cản nổi”.

Sẽ trở nên vu vơ khi Luật quy định các điều khoản vi phạm và mức chế tài, nhưng trong thực tế những hành vi phạm luật xảy ra liên tục, thậm chí lặp lại nhiều lần ở một đơn vị cụ thể vẫn không bị chế tài đủ để không tái phạm.

Chỉ đơn cử một đơn vị như NXB Trẻ, với 47 đầu sách bị in lậu như thế, làm thiệt hại hàng tỷ đồng cho chủ sở hữu, làm thất thu thuế đối với Nhà nước, và đánh lừa bạn đọc khi lượng lớn sách giả như vậy tung ra thị trường, mà không có biện pháp nào ngăn chặn hiệu quả. Bản thân lãnh đạo và cán bộ của Nhà xuất bản đã phải nhiều lần cải trang, lần mò tới tận cơ sở in sách lậu để “bắt tận tay” và báo cơ quan chức năng nhờ can thiệp nhưng sau đó mọi chuyện vẫn không thay đổi được gì, sách lậu vẫn cứ tiếp tục xuất hiện ngoài thị trường.

Như vậy, xã hội đang gánh chịu một tệ nạn lẽ ra đã được giải quyết bằng Luật sở hữu trí tuệ. Tình trạng trên tạo thêm nỗi bất an cho lực lượng sáng tác. Nhà thơ Phạm Sỹ Sáu, Trưởng ban khai thác đề tài và giao dịch bản quyền NXB Trẻ lo ngại tình trạng đánh cắp tác phẩm đang ngày một tinh vi. Ông nói: “Đánh cắp ý tưởng tác phẩm là việc chưa thể dùng luật để giải quyết được. Hiện nay có những người sao chép ý tưởng từ nhiều tác phẩm của nhiều tác giả, mỗi nơi một ít, làm thành tác phẩm của mình, có thể kinh doanh kiếm lời hẳn hoi, nhưng để chế tài những hành vi đó thì thật khó”. Trong số đó có cả những giảng viên sử dụng hàm lượng trí tuệ trong các khóa luận, luận án của sinh viên để hoàn thành công trình của mình.

Ở điểm này, thông thường các sinh viên không thể viện dẫn luật để tìm kiếm sự bảo hộ, vì tình trạng “thấp cổ bé họng” của mình.

Quả thật, một khi hành vi in lậu bị phát hiện còn chưa ngăn chặn được thì việc hạn chế hành vi đánh cắp ý tưởng từ các tác phẩm là quá xa vời. Và như vậy, Luật Sở hữu trí tuệ tuy vẫn hiện diện nhưng chưa sống được trong đời sống người dân.

Đến nay, thị trường xuất bản của Việt Nam còn quá nhỏ bé, nếu tính ở số lượng in 1.000 – 2.000 bản trên mỗi đầu sách. Đây là điều bất lợi trong các thương vụ giao dịch tác quyền giữa những đơn vị làm sách trong nước với các công ty nước ngoài. Bên cạnh đó, các nước trong khu vực biết rằng, Việt Nam vẫn là một thị trường xuất bản cần chấn chỉnh về sở hữu trí tuệ. Lộ trình mở cửa lĩnh vực phát hành sách sẽ khiến ngành xuất bản Việt Nam khó khăn hơn khi các tập đoàn nước ngoài hiện diện nhiều hơn và giám sát kỹ hơn việc sử dụng và kinh doanh các sản phẩm trí tuệ của họ.

Lẽ ra, Luật Sở hữu trí tuệ phải có tác dụng giúp các đơn vị xuất bản trong nước phát huy ý tưởng, tăng sức cạnh tranh với bên ngoài, tạo cơ hội xuất khẩu và hội nhập với ngành xuất bản của các nước. Thế nhưng, trên thực tế giới làm sách trong nước hiện lại đang phải loay hoay đối phó nhau trong các vụ vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ ở trong nước.

(MKLAW FIRM: sưu tầm)