1. Thời kì trước năm 1945

1.1 Thời kì phong kiến

Cấu trúc bộ máy nhà nước của chế độ phong kiến là sự tập trung tất cả quyền hành vào một người (là vua). Việc tổ chức các cơ quan hành pháp, tư pháp theo bổ nhiệm, không qua dân chủ bầu cử. Việc thực hiện các quan hệ, giao dịch dân sự của cá nhân mang tính tự phát. Sự điều chỉnh của nhà nước đối với các giao dịch dân sự ở cơ sở thông qua việc thực hiện quyền hành của các cá nhân có chức sắc trông coi về hành chính theo địa hạt làng, xã (lý trưởng). Hình thức văn bản về giao dịch dân sự chủ yếu được lập dưới dạng văn tự, nội dung đơn giản, sơ sài; trong trường hợp có tranh chấp thì việc giải quyết tại cấp làng xã hoặc cao hơn thì kéo nhau lên quan phủ, quan huyện để phân giải.

1.2 Thời kỳ thuộc Pháp

Sau một thời gian có mặt ở Việt Nam, thực hiện chính sách chia để trị, thực dân Pháp phân địa giới về hành chính ở Việt Nam thành Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ. Mô hình tổ chức và hoạt động về hành chính nói chung và về công chứng nói riêng được sắp đặt và thực hiện theo mô hình như ở Cộng hòa Pháp, sắc lệnh ngày 24/8/1931 của Tổng thống Cộng hòa Pháp về tổ chức công chứng cũng được áp dụng ở Đông Dương kể từ tháng 10/1931. Tại các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, người Pháp tổ chức một số Văn phòng công chứng với người hành nghề là công chứng viên do Pháp bổ nhiệm (tại Hà Nội có một Văn phòng công chứng, tại Sài Gòn có 3 Văn phòng công chứng). Hoạt động công chứng phục vụ các giao dịch về dân sự chủ yếu cho người Pháp ở Việt Nam và những người Việt Nam giàu có, các thương gia, những người trong giới kinh doanh bất động sản. Qua tài liệu và hồ sơ công chứng để lại, cho thấy việc công chứng lúc đó cũng đã được thực hiện đối với các giao dịch về mua bán, tặng cho, thế chấp bất động sản, lập di chúc để lại thừa kế tài sản. Hình thức văn bản dưới dạng các chứng thư đoạn mại, văn bản chia cho tài sản, di chúc...

Sau khi Pháp rút khỏi Việt Nam (năm 1954), ở Miền Nam Việt Nam, chính quyền Sài Gòn tiếp tục duy trì về tổ chức và hoạt động công chứng. Bằng văn bản (Dụ) số 43 ngày 29/11/1954 do Quốc Trưởng Bảo Đại ký ban hành, công chứng với tên gọi mới là hoạt động Chưởng khế. về thực chất, Chưởng khế là thể chế công chứng Nhà nước - Chưởng khế được Nhà nước bao cấp.

Ở Miền Bắc Việt Nam, sau cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, các cơ quan thuộc Chính phủ được thành lập và đi vào hoạt động. Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã có văn bản ngày 01/10/1945 về việc bãi chức đối với công chứng viên Deroche (công chứng viên hành nghề tại Văn phòng công chứng của Pháp tại Hà Nội); đồng thời bổ nhiệm một công chứng viên là người Việt Nam (ông Vũ Quý Vỹ) để tiếp tục duy trì hoạt động công chứng. Các quy định về công chứng trước đây vẫn được áp dụng, trừ các quy định không phù hợp với chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tuy nhiên, sau đó hoạt động công chứng ở Miền Bắc Việt Nam chỉ duy trì được một thời gian ngắn do hoàn cảnh kháng chiến chóng thực dân Pháp lúc đó.

Khi người pháp rút khỏi Hà Nội, các hồ sơ công chứng tại Hà Nội do công chứng viên Deroche công chứng đã được di chuyển vào Sài Gòn. Hiện nay, phần lớn hồ sơ đó nằm tại kho lưu trữ của công chứng Thành phố Hồ Chí Minh.

 

2. Thời kỳ từ năm 1945 đến trước khi có Luật Công chứng

​2.1 Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1991

Chính quyền non trẻ của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đóng đô tại Hà Nội từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946 (ngày toàn quốc kháng chiến). Từ năm 1946 đến tháng 10/1954 bộ máy Nhà nước tạm thời rời về chiến khu Việt Bắc để tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và phát xít Nhật. Hệ thống các cơ quan hành pháp, tư pháp và xét xử vẫn được tổ chức và hoạt động. Việc đảm bảo các quyền về giao dịch dân sự của cồng dân được Nhà nước tổ chức và thực hiện thông qua hoạt động chứng thực, thị thực của ủy ban kháng chiến hành chính các cấp. Các sắc lệnh số 59/SL ngày 15/11/1945 “Về thị thực các giấy tờ trong đó có chứng thực các giao dịch về bất động sản” và Sắc lệnh số 85/SL ngày 29/02/1952 “Quy định thể lệ trước bạ các việc mua, bán, cho, đổi nhà đất, ruộng đất” đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành. Năm 1956, cuộc cách mạng về ruộng đất được thực hiện trên phạm vi miền Bắc (từ vĩ tuyến 17 trở ra) đã đem lại cho người cày có ruộng và việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất cho người sử dụng đất được thực hiện.

  • Ngày 10/10/1987, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 574/QLTPK “Hướng dẫn thực hiện công tác công chứng nhà nước” để ủy ban nhân dân các cấp thực hiện; đồng thời, có sự chỉ đạo để thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thí điểm thành lập Phòng Công chứng Nhà nước.
  • Ngày 15/10/1987 Bộ Tư pháp ban hành tiếp Thông tư số 858/QLTPK “Hướng dẫn thực hiện các việc công chứng cụ thể”.

Sau thời gian làm thí điểm tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều Phòng công chứng Nhà nước đã được thành lập và hoạt động tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

 

2.2 Thời kỳ từ năm 1991 đến năm 2006

Trước những yêu cầu về giao dịch dân sự ngày càng phát triển; để tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước và đảm bảo cho các giao dịch dân sự được an toàn về pháp lý, tránh sự tranh chấp, rủi ro cho cá nhân, tổ chức khi họ tham gia ký kết các hợp đồng, giao dịch, Chính phủ đã ban hành một số Nghị định về công chứng, gồm có

:Ngày 27 tháng 2 năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 45/HĐBT về Tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước gồm 4 chương, 36 Điều. Lần đầu tiên, trong văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam xác định khái niệm về công chứng : “Công chứng Nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực của của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa ”. Trong Nghị định đã quy định về các nguyên tắc chung, các điều kiện để công chứng và các việc công chứng. Nghị định số 45/HĐBT có hiệu lực cho đến hết ngày 17/5/1996 (có hiệu lực thi hành được 5 năm);

Ngày 18/5/1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 31/CP về Tổ chức và hoạt động Công chứng Nhà nước để thay thế Nghị định số 45/HĐBT. Nghị định này gồm có 6 chương, 39 Điều, về khái niệm công chứng giữ nguyên văn như tại Nghị định số 45/HĐBT. Tiếp đó, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 1411/TC-CC ngày 03/10/1996 hướng dẫn thi hành Nghị định số 31/CP. Nghị định này có hiệu lực đến ngày 31/3/2001 (có hiệu lực thi hành được 4 năm 10 tháng).

Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về Công chứng- chứng thực, thay thế Nghị định số 31/CP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/4/2001, gồm có 10 chương-75 Điều. Đây là Nghị định quy định ghép về chức năng công chứng và chứng thực trong một văn bản quy phạm. Nghị định này quy định về công chứng (Điều 2), như sau: “Công chứng là việc Phòng công chứng chứng nhân tỉnh xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này”. Nghị định số 75/NĐ-CP chấm dứt hiệu lực thi hành vào ngày 01/7/2007.( có hiệu lực thi hành được 6 năm 5 tháng).

 

3. Thời kỳ từ khi có Luật Công chứng cho tới nay

3.1 Luật Công chứng năm 2006

Từ ngày 17 tháng 10 đến ngày 29/11/2006, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI đã họp và ra Nghị quyết thông qua Luật Công chứng số 82/2006/QHll(dưới đây gọi tắt là Luật Công chứng năm 2006); Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2007. Lần đầu tiên, trong Luật Công chứng 2006 đưa ra khái niệm mới về công chứng, tại Điều 2: “Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyên yêu cầu công chứng”.

Như vậy, kể từ năm 1991 cho đến năm 2006 (qua 15 năm) cái nội hàm, cái thực chất của khái niệm về công chứng được bóc tách rành mạch, chính xác rằng đó là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch bằng văn bản. Đây chính là một mốc mới trong lý luận về công chứng qua so sánh với quy định về công chứng tại Nghị định 75/2000/CP (như đã nêu trên). Trong Luật Công chứng năm 2006 đã xác định Công chứng là một nghề, công chứng viên là người hành nghề công chứng. Với kết cấu 8 chương, 67 Điều, bao gồm các chế định về phần chung, về tổ chức và hoạt động công chứng, về quản lý nhà nước về công chứng, Luật Công chứng năm 2006 là đột phá mới về công chứng, đưa hoạt động công chứng ở Việt Nam đi vào chuyên nghiệp hóa, từng bước chuyển dần xã hội hóa hoạt động công chứng.

 

3.2 Luật Công chứng năm 2014

Trước yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước, trước thực tiễn sôi động về các giao dịch trong lĩnh vực dân sự, kinh tế, thương mại; trong việc tổ chức, hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng; Luật Công chứng số 53/2014/QH13 đã được ban hành thay thế Luật Công chứng năm 2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015. So với Luật Công chứng năm 2006, Luật Công chứng năm 2014 đã đưa ra khái niệm mới về công chứng. Khoản 1- Điều 2 viết: “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tỉnh xác thực, tỉnh hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”.

Với kết cấu 10 chương, 81 Điều, ngoài các chế định mà Luật Công chứng 2006 đã có, Luật Công chứng năm 2014 đã có thêm các phần mới, bao gồm: Chức năng xã hội của công chứng viên (Điều 3); Việc bồi dưỡng nghiệp vụ đối với những người được bổ nhiệm công chứng viên không qua đào tạo nghề công chứng (Điều 9); Việc kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng (khoản 5 - Điều 11); Chuyển đổi, giải thể phòng công chứng (Điều 21); Hợp nhất, sáp nhập Văn phòng công chứng; Chuyển nhượng Văn phòng công chứng; Thẻ công chứng viên (Điều 36); Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên (Điều 37); Bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công chứng (Điều 38); Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên (Điều 39); Công chứng bản dịch (Điều 61); Cơ sở dữ liệu công chứng (Điều 62); Chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản của công chứng viên (Điều 77); Điều kiện bắt buộc phải thay đổi tên gọi của Văn phòng công chứng (khoản 2 - Điều 79)...

Sau khi Luật Công chứng năm 2014 có hiệu lực thi hành, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng. Tiếp đó, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 06/2015/TT-BTP ngày 15/6/2015 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng. Trên cơ sở quy định của Luật và các văn bản có liên quan, các tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện quản lý, điều hành tổ chức mình và các công chứng viên đã hành nghê công chứng theo các quy định nêu trên.

Việc xã hội hóa hoạt động công chứng được triển khai thực hiện và thu được kết quả bước đầu, cụ thể:

Chủ trương xã hội hóa công chứng của Đảng và Nhà nước đã được các cấp có thẩm quyền như Bộ Tư pháp, cấp ủy Đảng, chính quyền các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chú trọng triển khai thực hiện theo các văn bản do Chính phủ ban hành.

Trước khi có Luật Công chứng năm 2006, cả nước có 138 Phòng Công chứng nhà nước, với 393 công chứng viên hành nghề. Sau 5 năm thi hành Luật Công chứng năm 2006, cả nước có 625 Tổ chức hành nghề công chứng (138 Phòng công chứng và 487 Văn phòng công chứng). Ngoài các phòng công chứng, tại Hà Nội có 86 Văn phòng công chứng, Thành phố Hồ Chí Minh có 34 Văn phòng, tỉnh Thanh Hóa có 24 Văn phòng, tỉnh Nghệ An có 22 Văn phòng, tỉnh Đồng Nai có 22 Văn phòng.

Tính đến hết tháng 6 năm 2018, cả nước có 1003 tổ chức hành nghề công chứng, bao gồm 133 Phòng Công chứng và 870 Văn phòng công chứng; với tổng số lượng công chứng viên đang hành nghề là 2.418 người. Trên toàn quốc đã có 62/63 tỉnh có Văn phòng Công chứng (Lai Châu chưa có). Chỉ tính riêng tại thành phố Hà Nội, hiện nay đã có 122 tổ chức hành nghề công chứng (10 Phòng cc và 112 Văn phòng CC), với 460 công chứng viên hành nghề; Thành phố Hồ Chí Minh có 100 Văn Phòng cc, Thanh Hóa có 38 Văn phòng cc, Nghệ An có 29 Văn phòng cc...

Sau 5 năm thi hành Luật Công chứng 2006, các Tổ chức hành nghề công chứng trên cả nước đã công chứng được 6.964.014 việc, tổng phí thu được: 2.577.497.952.000 đồng (Hai nghìn năm trăm bảy mươi bảy tỷ, bốn trăm chín bảy triệu, chín trăm năm mươi hai nghìn đồng).

Sau 3 năm thi hành Luật Công chứng năm 2014, các Tổ chức hành nghề công chứng trên cả nước đã thực hiện công chứng 11.032.916 việc; phí công chứng thu được 3.412.496.126.206 đồng (Ba nghìn bố trăm mười hai tỷ,bốn trăm chin mươi sáu triệu, một trăm hai mươi sáu nghìn, hai trăm lẻ sáu đồng).

- Quy mô về tổ chức nhân sự của một Văn phòng công chứng cũng phát triển, số Văn phòng có từ trên 7 công chứng viên ngày càng nhiều, số lượng công chứng viên hiện nay đang hành nghề tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là 2418 người; chỉ còn 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có số lượng công chứng viên dưới 10 người.

  1. Trong thời gian tới, thực hiện quy định tại Điều 21 Luật Công chứng 2014, tùy thuộc vào tình hình cụ thể tại địa phương về tổ chức và hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng, ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ quyết định việc chuyển đổi các Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng nhằm đẩy nhanh tiến độ xã hội hóa công chứng ở Việt Nam. Qua khảo sát việc chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng ở một số địa phương đã và đang thực hiện như Lâm Đồng, cần Thơ, Hà Nội, cho thấy việc chuyển đổi thành công phải do nhận thức của công chứng viên các Phòng được chuyển đổi về việc xã hội hóa là quá trình tất yếu; cộng với sự quan tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền các địa phương sở tại, sự quan tâm và cùng giải quyết các vướng mắc của các ngành, các cấp có liên quan như: Tư pháp, Nội vụ, Thương binh-xã hội, Xây dựng, Tài nguyên - Môi trường...
  2. Các tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên được thành lập và đi vào hoạt động. Tính đến tháng 6/2018, cả nước đã có 50 Hội công chứng viên được thành lập và hoạt động tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Các địa phương còn lại đang tiếp tục các thủ tục cần thiết để trình ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép thành lập Hội Công chứng viên. Theo quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì đến năm 2020, cả nước sẽ có khoảng 3000 công chứng viên hành nghề tại 1700 tổ chức hành nghề công chứng.

Ngày 14 tháng 01 năm 2019 Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam được thành lập xác định chính danh về tổ chức hệ thống Công chứng ở Việt Nam trước quốc tế. Qua đó, những người hành nghề công chức của Việt Nam đã có một tổ chức trên phạm vi cả nước để đại diện bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của công chứng viên trong hành nghề
công chứng. Mặt khác, cũng là cơ hội, điều kiện để công chứng Việt Nam đẩy nhanh quá trình học tập, rút kinh nghiệm và hợp tác quốc tế về công chứng.

Tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế về công chứng:

Bên cạnh những cố gắng nhằm từng bước củng cố về thể chế, tổ chức và hoạt động công chứng ở trong nước, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương và tạo điều kiện cho sự hội nhập quốc tế trong lĩnh vực công chứng. Sự định hướng của Chính phủ, sự chỉ đạo của Bộ Tư pháp, sự lãnh đạo, chỉ đạo và tạo điều kiện của cấp ủy, chính quyền cấp tỉnh đã cho phép, thúc đẩy các hoạt động hợp tác, giao lưu giữa công chứng các địa phương với các đối tác quốc tế ngày càng phát triển. Các hoạt động thông qua làm việc, học tập, trao đổi kinh nghiệm và ký kết hợp tác giữa công chứng Việt Nam đã được thực hiện với công chứng các nước Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Canada, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn quốc, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Campuchia...

Ngày 10/10/2013, Tổ chức công chứng viên Việt Nam đã được Liên minh công chứng quốc tế họp đại hội làn thứ 27 tại Lima (thủ đô Pêru) kết nạp để trở thành thành viên thứ 84 của tổ chức này.

Việc kết nghĩa về công chứng của một số tỉnh với một số đối tác tại Cộng hòa Pháp đang được duy trì hoạt động và đạt hiệu quả, gồm có:

  • Thành phố Hà Nội với Paris.
  • Thành phố Hồ Chí Minh với Lyon.
  • Thành phố Đà Nãng với Marseille.
  • Thành pho Hải Phòng với Strasbourg.
  • Tỉnh Hải Dương với Bordeaux.
  • Tỉnh Vĩnh Phúc với Clemont Ferrand.

Thỏa thuận hợp tác về công chứng trên nhiều phương diện. Các đối tác bạn đã có nhiều sự giúp đỡ phía Việt Nam về kinh nghiệm xây dựng và phát triển thể chế công chứng, tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng, kỹ năng tác nghiệp trong một số chuyên đề nghiệp vụ mà hai bên cùng quan tâm, tổ chức các cuộc làm việc và hội thảo quốc tế về công chứng, sơ tổng kết hoạt động hợp tác công chứng...

Thực hiện chương trình hợp tác, công chứng Việt Nam cũng đã có các hoạt động thiết thực, cụ thể như: Cử đại diện tham gia hội thảo do Liên minh công chứng quốc tế tổ chức tại Mông cổ (tháng 7/2013); thăm và làm việc về đào tạo nghề công chứng tại Cộng hòa Liên bang Đức (năm 2011); tham dự lễ kết nạp công chứng Việt Nam là thành viên của Liên minh công chứng quốc tế; thăm và làm việc với công chứng Lào và Trường đào tạo công chứng thuộc Học viện Hoàng gia Campuchia; tham dự hội nghị thường niên lần thứ 4 và thứ 5 của ủy ban châu Á thuộc Liên minh công chứng quốc tế tổ chức tại Bắc Kinh (tháng 9/2014); tổ chức hội thảo quốc tế về quyền sử dụng đất tại Thành phố Hồ Chí Minh (tháng 11/2014); tham dự đại hội lần thứ 111 của công chứng viên Cộng hòa Pháp (tháng 5/2015); tham dự đại hội lần thứ 5 của ủy ban các vấn đề về công chứng châu Á thuộc Liên minh công chứng quốc tế tổ chức tại Nhật Bản (tháng 9/2015)...

Trong quá trình thực hiện chương trình hợp tác của mỗi bên, công chứng Việt Nam đã tiếp thu được những kinh nghiệm trong việc tổ chức và hoạt động công chứng của các quốc gia có nền công chứng phát triển. Theo định kỳ, các bên hợp tác sẽ đánh giá kết quả
thực hiện hợp tác thông qua hội nghị. (Hội nghị đánh giá hợp tác quốc về công chứng giữa Cộng hòa Pháp và Việt Nam đã được tổ chức tại Đà Nẵng vào tháng 11/2015).

Cùng với sự phát triển và hội nhập của Việt Nam, được sự quan tâm, tạo điều kiện của Đảng, Nhà nước, các cấp có thẩm quyền ở cấp tỉnh trong cả nước, công chứng Việt Nam đã từng bước vượt qua những bỡ ngỡ, khó khăn ban đầu để quyết tâm vươn lên tự hoàn thiện về tổ chức và hoạt động, đáp ứng các nhu cầu công chứng của cá nhân, tổ chức và thiết thực phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

 

3.3 Luật công chứng năm 2024

Sau 10 năm thi hành Luật công chứng năm 2014, Vào ngày 26 tháng 11 năm 2024, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành Luật công chứng năm 2024 số 46/2024/QH15. Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2024 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025.

Luật công chứng năm 2024 thể hiện những điểm mới căn bản sau:

Thứ nhất, xác định đúng phạm vi công chứng và thẩm quyền của công chứng viên; quy định về các giao dịch phải công chứng. Sửa đổi quy định về một số hành vi bị nghiêm cấm, đồng thời bổ sung một số hành vi mới bị nghiêm cấm đối với công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, cá nhân, tổ chức có liên quan (Điều 9).

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung một số quy định về công chứng viên. Mở rộng quyền cho công chứng viên, cụ thể:

  • Thêm quyền công chứng bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài và ngược lại;
  • Thêm quyền chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản.

Siết chặt đào tạo nghề công chứng:

  • Tăng thời gian đào tạo công chứng lên 12 tháng;
  • Tăng thời gian hành nghề lên 05 năm đối với thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, luật sư đồng thời phải tham gia khóa bồi dưỡng nghề trong 03 tháng mới được miễn đào tạo nghề.

Thứ ba, sửa đổi, bổ sung quy định về tổ chức hành nghề công chứng. Ví dụ: Văn phòng công chứng được phép chuyển nhượng nếu đã hoạt động được 02 năm; công chứng viên chuyển nhượng sẽ không được phép thành lập Văn phòng công chứng mới trong thời hạn 05 năm. Đồng thời có nhiều điểm mới đáng lưu ý khác.

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)