1. Bào chữa là gì?

Bào chữa là một trong những chế định quan trọng của luật tố tụng hình sự và có thể được tiếp cận dưới nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau.

Một là, từ góc độ quyền con người, bào chữa là quyền của người bị buộc tội (người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện. Quyền này được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 58; điểm d khoản 2 Điều 59; điểm h khoản 2 Điều 60; điểm g khoản 2 Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

2. Người bào chữa gồm những ai?

Theo Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tố tụng chỉ định và được tiếp nhận việc đăng ký bào chữa.

Nhắc đến người bào chữa, nhiều người thường nghĩ ngay tới luật sư. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự, người bào chữa có thể là:

- Luật sư;

- Người đại diện của người bị buộc tội;

- Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý;

- Bào chữa viên nhân dân - người được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.

3. Những người sau đây không được bào chữa:

- Người đã tiến hành tố tụng vụ án đó hoặc người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng vụ án đó;

- Người tham gia vụ án đó với tư cách là người làm chứng, giám định, định giá tài sản, phiên dịch, dịch thuật;

- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị kết án mà chưa được xoá án tích, người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.

Ngoài ra, một người bào chữa được bào chữa cho nhiều người bị buộc tội trong cùng vụ án nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau. Nhiều người bào chữa cũng có thể bào chữa cho một người bị buộc tội.

4. Ai được lựa chọn người bào chữa?

Điều 75 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, người bào chữa do người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ lựa chọn.

Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam yêu cầu người bào chữa

Trong 12 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa của người bị bắt, bị tạm giữ thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của họ.

Trường hợp người bị bắt, bị tạm giữ không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị bắt, bị tạm giữ phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa.

Trong 24 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa của người bị tạm giam thì cơ quan có thẩm quyền quản lý có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của họ. Nếu không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền quản lý phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa.

Người đại diện hoặc người thân thích yêu cầu người bào chữa

Nếu người đại diện hoặc người thân thích của người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam có đơn yêu cầu nhờ người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo ngay cho người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam để có ý kiến về việc nhờ người bào chữa.

Ngoài ra, nếu người bị buộc tội là thành viên của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên thì họ hoặc người đại diện, người thân thích của họ có thể đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận từ huyện, quận, thị xã, thành phố cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa.

5. So sánh chế định bào chữa trong Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2003 và Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015

5.1. Mở rộng diện người được bảm đảm quyền bào chữa (Điều 58)

* BLTTHS năm 2003: chỉ 03 diện người mới có quyền bào chữa gồm (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo).

* BLTTHS năm 2015: để phù hợp với Hiến pháp năm 2013, ngoài 03 đối tượng được bảo đảm quyền bào chữa như hiện hành, BLTTHS năm 2015 bổ sung “người bị bắt” được bảo đảm quyền bào chữa.

5.2. Mở rộng diện người bào chữa (Điều 72)

* BLTTHS năm 2003: quy định có 03 diện người bào chữa gồm: luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân.

* BLTTHS năm 2015: để bảo đảm tốt hơn quyền của người bị buộc tội, phù hợp với Luật trợ giúp pháp lý, BLTTHS năm 2015 bổ sung diện người bào chữa là Trợ giúp viên pháp lý để bào chữa miễn phí cho các đối tượng thuộc diện chính sách.

5.3. Đổi mới quy định về cấp đăng ký bào chữa (Điều 78)

* BLTTHS năm 2003: quy định để được tham gia bào chữa trong vụ án, người bào chữa phải được cấp giấy đăng chứng nhận người bào chữa.

* BLTTHS năm 2015: nhằm bảo đảm người bào chữa nhanh chóng tham gia tố tụng, BLTTHS năm 2015 đã thay quy định cấp giấy chứng nhận người bào chữa bằng thủ tục đăng ký bào chữa. Theo đó, trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ theo luật định, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm: kiểm tra giấy tờ do người bào chữa cung cấp, nếu thấy đủ điều kiện luật định thì vào sổ đăng ký bào chữa và gửi ngay văn bản thông báo người bào chữa cho người đăng ký và cơ sở giam giữ. Văn bản thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tố tụng.

5.4. Bổ sung một số quyền và cơ chế bảo đảm người bào chữa thực hiện tốt các quyền luật định

Theo quy định tại Điều 73 và các Điều 79-82 BLTTHS năm 2015

- Để người bào chữa thực hiện tốt việc bào chữa, gỡ tội, BLTTHS năm 2015 bổ sung một số quyền của người bào chữa, gồm: (1) Quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt; Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, bị tạm giữ, bị can thay vì chỉ được hỏi khi cơ quan tiến hành tố tụng đồng ý như hiện nay; (2) Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này; (3) Thu thập chứng cứ; kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; (4) Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản; (5) Đề nghị thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế.

- BLTTHS năm 2015 bổ sung các cơ chế để người bào chữa thực hiện tốt việc bào chữa như: Quy định trách nhiệm của các cơ quan tố tụng phải thông báo trước cho người bào chữa thời gian và địa điểm tiến hành các hoạt động tố tụng mà họ có quyền tham gia; Quy định cụ thể thủ tục gặp người bị buộc tội đang bị bắt, tạm giữ, tạm giam, thủ tục giao nộp chứng cứ, thủ tục đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án.

- Đồng thời với việc bổ sung quyền của người bào chữa, nhằm tăng cường trách nhiệm của người bào chữa, BLTTHS năm 2015 bổ sung nghĩa vụ của người bào chữa phải có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; không được tiết lộ thông tin mà mình biết được khi tham gia các hoạt động tố tụng liên quan đến vụ án hoặc liên quan đến người mà mình bào chữa cho những người không có trách nhiệm giải quyết vụ án.

5.5. Quy định cụ thể thủ tục mời, cử người bào chữa (Điều 75)

* BLTTHS năm 2003: quy định rất sơ sài về thủ tục mời, cử người bào chữa; không cho phép người thân thích của người bị buộc tội có quyền mời người bào chữa.

* BLTTHS năm 2015: để bảo đảm quyền của người bị buộc tội, nhất là người bị buộc tội đang bị bắt, tạm giữ, tạm giam, BLTTHS năm 2015 quy định: (1) Bổ sung người thân thích của người bị buộc tội có quyền mời người bào chữa; (2) Quy định cụ thể thủ tục và trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan quản lý người bị tạm giữ, tạm giam khi tiếp nhận được yêu cầu nhờ người bào từ người buộc tội phải chuyển yêu cầu này hoặc thông báo cho người bào chữa được họ nhờ biết; có trách nhiệm tạo điều kiện cho người bào chữa liên hệ với người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam để thỏa thuận về việc nhờ bào chữa.

5.6. Mở rộng các trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa (Điều 76)

* BLTTHS năm 2003: quy định bắt buộc mời người bào chữa cho bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình.

* BLTTHS năm 2015: để thể chế hóa chính sách nhân đạo của Đảng, Nhà nước và phù hợp với điều kiện cụ thể nước ta, BLTTHS năm 2015 mở rộng trường hợp bắt buộc mời người bào chữa cho bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là 20 năm, tù chung thân, tử hình.

Đồng thời, để khắc phục bất cập của BLTTHS hiện hành, BLTTHS năm 2015 quy định chặt chẽ về người có nhược điểm về thể chất theo hướng nhược điểm về thể chất đó phải làm cho người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không thể tự mình thực hiện được quyền bào chữa.

5.7. Về những trường hợp không được làm người bào chữa (Điều 72)

* BLTTHS năm 2003: thiếu quy định về các trường hợp không cho phép cấp giấy chứng nhận người bào chữa.

* BLTTHS năm 2015: để phù hợp với Luật Luật sư và thực tiễn giải quyết vụ án thời gian qua, BLTTHS năm 2015 bổ sung những đối tượng không được làm người bào chữa, gồm: (1) Nếu đã tham gia vụ án đó với tư cách là người dịch thuật; (2) Là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án mà chưa được xoá án tích; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.

5.8. Về thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng (Điều 74)

* BLTTHS năm 2003: quy định thời điểm người bào chữa tham gia tố tugnj kể từ khi có quyết định tạm giữ.

* BLTTHS năm 2015: cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2015 quy định thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng sớm hơn, kể từ khi có người bị bắt.

4.9. Về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự

* BLTTHS năm 2003: chưa quy định về người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

* BLTTHS năm 2015: nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể này, BLTTHS năm 2015 xây dựng hai điều luật (Điều 83 và Điều 84) quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể này với những bổ sung quan trọng như: (1) Quy định ngay từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố đã có quyền có người bảo vệ quyền lợi; (2) Quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; (3) Yêu cầu giám định, định giá tài sản; (4) Quyền tham gia các hoạt động tố tụng để bảo vệ người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự và một số quyền khác.