>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự về tuyên bố mất tích, gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau: 

 

1. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người đã chết

Quy định về việc tuyên bố chết là một quy định rất quan trọng trong cuộc sống nói chung cũng như là trong các mối quan hệ được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự nói riêng. Bởi vì trong quan hệ dân sự mối quan hệ về các quyền và nghĩa vụ dân sự giữa cá nhân với cá nhân gắn bó chặ chẽ với nhau, sự kiện một người vắng mặt lâu ngày ở nơi cư trú trong một thời gian dài mà không có tin tức gì để có thể chứng minh rằng người đó còn sống hay đã chết sẽ có sự ảnh hưởng trực tiếp đến các chủ thể liên quan trong các mối quan hệ. Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về trường hợp tuyên bố chết tại Điều 71, cụ thể như sau:

"Điều 71. Tuyên bố chết

1. Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:

a) Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

b) Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này.

2. Căn cứ vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết.

3. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch".

* Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố chết.

Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố chết, cụ thể như sau:

"Điều 72. Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết

1. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.

2. Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế".

- Về tư cách chủ thể: Trong trường hợp quyết định tuyên bố chết của Tòa án đối với một cá nhân có hiệu lực thì  thì tư cách chủ thể của cá nhân đó chấm dứt hoàn toàn. Điều này có nghĩa là, tính từ thời điểm quyết định của Tòa án có hiệu lực thì cá nhân đó không thể tham gia vào bất cứ quan hệ dân sự nào với tư cách là một chủ thể của quan hệ đó, từ quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân, các giao dịch dân sự.

- Về quan hệ nhân thân: Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ khác về nhân thân của người đó được giải quyết như đối với người đã chết. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân của cá nhân bị tuyên bố chết chấm dứt. Các quan hệ nhân thân khác cũng chấm dứt tương tự. Nếu vợ hoặc chồng của cá nhân bị tuyên bố chết kết hôn với người khác thì việc kiết hôn đó vẫn có hiệu lực pháp luật. Các quan hệ nhân thân khác như các quan hệ về tên gọi, danh dự, nhân phẩm của cá nhân,...hay các quan hệ gắn với tài sản như quyền tác giả về các tác phẩm văn học, quyền tá giả về các phát minh, sáng chế,...cũng được giải quyết giống như đối với những người đã chết, có nghũa là chất dứt tất cả các quan hệ đó .

- Về quan hệ tài sản: Cũng được tuyên bố như đối với người đã chết được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. Tức là, khi quyết định tuyên bố chết đối với một cá nhân của Tòa án có hiệu lực, thì thời điểm đó cũng là thời điểm mở thừa kế. Đồng thời thời điểm đó cũng là thời điểm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế. Trường hợp người bị tuyên bố chết chưa giải quyết xong các nghĩa vụ về tài sản với chủ thể nào đó thì những người được hưởng thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ đó trong phạm vi tài sản của người tuyên bố chết để lại.

 

2. Hậu quả pháp lý của quyết định tuyên bố cá nhân mất tích

Tuyên bố mất tích là một trong những thủ tục pháp lý được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015. Thủ tục này được áp dụng khi một người đã biệt tích quá lâu tại nơi cư trú, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nhiều người liên quan, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về tuyên bố mất tích cụ thể như sau:

"Điều 68. Tuyên bố mất tích

1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

2. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

3. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch".

* Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố mất tích

- Về tư cách chủ thể: Biệt tích đã 2 năm liền trở lên, không có một tin tức nào về người đó còn sống hay đã chết. Khi tòa án ra quyết định tuyên bố mất tích, tạm thời tư cách chủ thể của người bị tuyên bố mất tích bị dừng lại và khi người đó trở về thì tư cách chủ thể của người đố tại có hiệu lực pháp lý.

- Về quan hệ nhân thân: Các quan hệ nhan thân của người bị tuyên bố mất tích cũng tạm dừng. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì tòa án giải quyết cho ly hôn 

- Về quan hệ tài sản: Người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú  thì tiếp tục quản lý tài sản của người đó khi tòa án tuyên bố mất tích và thực hiện các quyền, nghĩa vụ. Trong trường hợp tòa án giải quyết cho vợ hoặc chồng  của người bị tuyên bố mất tích ly hôn thì tài sản của người bị mất tích giao cho con đã thành niên hoặc cha mẹ quản lý, nếu không có những ngươi này thì giao cho người thân thích của người bị mất tích quản lý, nếu không có ngươi thân thích thì tòa sẽ chỉ định người khác quản lý tài sản.

 

3. Phân biệt tuyên bố mất tích và tuyên bố chết.

Pháp luật dân sự quy định về năng lực hành vi dân sự của một cá nhân có từ khi người đó được sinh ra cho đến khi người đó chết đi. Tuy nhiên trong cuộc sống có rất nhiều những trường hợp có thể phát sinh mà để bảo đảm các quyền và lợi ích của các bên trong mối quan hệ mà pháp luật dân sự bảo vệ. Bộ luật dân sự đã quy định về các chế định về các trường hợp mất tích hoặc tuyên bố đã chết, các hình thức này khác nhau cơ bản như sau:

  Tuyên bố mất tích Tuyên bố chết
Cơ sở pháp lý Điều 68, 69, 70 Bộ luật dân sự năm 2015 Điều 71, 72 và  Điều 73 Bộ luật dân sự năm 2015
Khái niệm  Mất tích là sự thừa nhận của Tòa án về tình trạng biệt tích của một cá nhân. Dựa trên cơ sở có đơn yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan Tuyên bố chết là sự thừa nhận của Tòa án về cái chết đối với một cá nhân. Khi cá nahan đó đã biệt tích trong thời hạn theo luật định trên cơ sở đơn yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan
Điều kiện tuyên bố 

Điều kiện tuyên bố mất tích:

- Theo yêu cầu của người có quyền và nghĩa vụ liên quan;

- Một người biệt tích 2 năm liền trở lên;

- Đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết.

* Lưu ý: Thời hạn hai năm được hiểu là:

- Ngày biết được tin tức cuối cung của người đó;

- Không xác định được ngày thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo có tin tức cuối cùng;

- Không xác định được ngày, tháng thì thời hạn được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

Điều kiện tuyên bố chết:

- Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan;

- Đáp ứng đủ điều kiện tại 1 trong 4 trường hợp cụ thể như sau:

+ Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

+ Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

+ Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

+ Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tuyên bố mất tích

Hậu quả pháp lý

Tạm đình chỉ tư cách chủ thể của người bị tuyên bố mất tích (không làm chấm dứt tư cách chủ thể của họ)

Tài sản người bị tuyên bố mất tích sẽ được chuyển sang quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích (Điều 65,66,67 và 69 Bộ luật dân sự năm 2015)

Vợ/chồng của người bị mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án cho phép họ ly hôn (Khoản 2 Điều 8 Bộ luật Dân sự 2015)

 

Chấm dứt tư cách chủ thể của người chết đối với mọi quan hệ pháp luật mà người đó tham gia với tư cách chủ thể

Tài sản của người tuyên bố chết được giải quyết theo pháp luật về thừa kế

(Điều 72 Bộ luật Dân sự 2015)

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. 

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê