- 1. Quy định về nghĩa vụ trả nợ cho người đã chết ?
- 2. Thủ tục sang tên sổ đỏ đối với tài sản của người đã chết ?
- 3. Có đổi được họ cho con khi người Cha đã chết không ?
- 4. Tư vấn về nghĩa vụ tài sản cho người đã chết ?
- 5. Công nhận và thực thi quyền sở hữu cá nhân: Thành phố Hồ Chí Minh công nhận tài sản cho người đã chết
1. Quy định về nghĩa vụ trả nợ cho người đã chết ?
Luật sư phân tích:
Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
"Điều 630. Di chúc hợp pháp
1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng."
"Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này."
"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."
Giải đáp nhanh một số tình huống cụ thể như sau:
Thưa luật sư, xin hỏi: Gia đình em bị mất sổ đỏ từ rất lâu rồi, nên bây giờ em đã làm thủ tục xin cấp lại giấy chứng nhân quyền sử dụng đất,. em đã làm thủ tục đẩy đủ rôi, nhưng em ra huyện nộp hồ sơ thì họ biểu em phải về lâp biên bản họp mặt gia đình,để xác nhân quyền thừa kế là mẹ. Vì bố em đã mất từ lâu rồi,nên các anh em trong gia đình phải họp lai và xác định người thừa ké là mẹ em. nên bây giờ em cũng không biết phải viết biên bản thế nào, em đã tham khảo các đơn trên mạng, nhưng em vẩn cảm thấy chưa xác thực lắm. nay xin luật sư cho em cái mẫu của biên bản họp mặt gia đình xác định người thừa kế.
>> Mẫu biên bản phân chia di sản thừa kế bạn tham khảo TẠI ĐÂY.
Thưa luật sư, xin hỏi: Ông, bà em có một thửa đất khoảng 1200m2 được tạo lập từ xưa, đến khi ông bà mất thì để lại cho cha mẹ em (không có giấy tờ cho nhận) ba mẹ em quản lý sử dụng. ba mẹ em sinh được 07 người con. đến năm 1994 ba em mất chỉ còn mẹ khi đó chính quyền địa phương có thông báo kê khai đất để làm giấy tờ đất. năm đó chị dâu em đi kê khai và để anh trai em đứng tên. khi làm thủ tục giấy tờ thì không có đủ chữ ký của các anh em trong nhà. hiện nay mẹ em cũng đã mất.Luật sư cho em hỏi em có được thừa kế trong phần đất này không?, anh trai em không chịu chia đất cho em, em phải làm sao để đòi được quyền lợi của mình.
=> Năm 1994 chị dâu bạn đi kê khai đất và để anh trai bạn đứng tên. Trước đó nếu như ông bà, bố mẹ bạn không hề có bất kì giấy tờ, tài liệu nào chứng minh là đất do mình đã sử dụng ổn định, lâu dài, không có tranh chấp thì tại thời điểm hiện tại bạn không có căn cứ để thừa kế mảnh đất này.
Thưa luật sư, xin hỏi: Lúc còn sống chị dâu tôi có vay tiền ngân hàng. Nay chị mất rồi mà nợ vẫn còn do vay để trị bệnh ( ung thư máu) . Ngân hàng tới nhà a trai là chồng để đòi nợ.nhưng k có 1 giấy tờ thừa kế nào. Vậy dựa vào đâu để biết a trai tôi có phải trả số nợ đó không
=> Trường hợp này chị dâu bạn không để lại di chúc thì di sản mà chị dâu để lại sẽ được chia thừa kế theo pháp luật. Theo quy định pháp luật thì hàng thừa kế thứ nhất gồm có:
"vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết"
Vậy anh trai bạn là chồng của chị dâu thì anh trai bạn có nghĩa vụ thực hiện việc trả nợ thay cho chị dâu trong phạm vi di sản được thừa kế.
Thưa luật sư, xin hỏi: Mẹ tôi khi còn sống có vay 10 triệu đồng của ngân hàng AB .nay mẹ tôi đã chết 1 năm. mẹ tôi ở với bà ngoại tôi và có 2 con gái đã lấy chồng. Hiện nay tôi được biết hồ sơ tại ngân hàng mẹ tôi vay không có người thừa kế,nhưng ở xã lại có ghi giấy tờ có người thừa kế (HTP) không phải tên và chữ ký của chị gái tôi. tên Chị tôi là NTP. khoản vay từ năm 2007 khi chị tôi lấy chồng từ 2005.còn tôi thì khi đó mới 11 tuổi. nay trưởng thôn vào làm việc và thông báo sẽ thu hồi sổ đỏ của gia đình tôi đứng tên bà ngoại tôi. trong khi hoàn cảnh gia đình khó khăn thì số nợ đó có phải trả hay không có thể khoanh nợ được ko ak? thứ 2: Trong khi năm 2009 bà ngoại tôi đã làm giấy tờ sang tên cho mẹ tôi. đến khi mẹ tôi mất tôi ra xã làm giấy tờ thì xã lại thông báo hiện nay bà tôi không thể sang tên cho chị em tôi hay bất cứ ai vì đã chuyển quyền sử dụng đất sang cho mẹ tôi rồi.
=> Hiện tại trong hồ sơ ngân hàng mẹ bạn vay có tên và chữ ký không hợp lệ nên phần người thừa kế trong hợp đồng được coi là vô hiệu.
Tuy nhiên hiện nay mẹ bạn đã mất, không để lại di chúc thì những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ có nghĩa vụ trả nợ ngân hàng thay cho mẹ bạn trong phạm vi di sản được nhận.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bạn đứng tên bà ngoại của bạn nhung đến năm 2009 đã sang tên cho mẹ bạn thì ngân hàng có thể kết hợp với các cơ quan có thẩm quyền để kê biên tài sản này để thu hồi nợ.
Thưa luật sư, xin hỏi: Bố mẹ chồng tôi có 3 người con, 2 trai và 1 gái, trong đó người con gái là con nuôi. Cả ba người con đều đã lập gia đình. Chồng tôi là con trai út. Các cụ nội ngoại đều đã qua đời. Giờ bố tôi tính chia đất cho vợ chồng tôi và gia đình anh cả. Vợ chồng tôi muốn bố chia thì chia rõ ràng, làm sổ đỏ cho 2 anh em rạch ròi luôn, tránh tranh chấp về sau, nhưng bố tôi bảo chỉ cần làm sổ đỏ cho anh cả thôi, còn phần đất còn lại vẫn đứng tên bố tôi, sau này bố mẹ tôi mất đi thì nó vẫn là của vợ chồng tôi, vì hiện giờ 2 vợ chồng tôi sống cùng bố mẹ, nhà anh cả ở riêng trên phần đất được chia. Xin luật sư cho hỏi, với cách chia đất của bố chồng tôi như thế, sau này khi các cụ khuất núi thì thủ tục sang tên sổ đỏ cho chồng tôi có gặp rắc rối gì không? Trong trường hợp xấu, liệu anh em có thể tranh giành đất còn lại của vợ chồng tôi không?
=> Theo như những gì bạn bạn trình bày, với cách bố bạn chia đất như vậy thì sau khi bố bạn sang tên mảnh đất này cho anh cả thì anh cả có toàn quyền sử dụng với mảnh đất này. Luật đất đai quy định:
"Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất
1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
b) Đất không có tranh chấp;
c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
d) Trong thời hạn sử dụng đất."
Vậy khi bố mẹ bạn còn sống, bố mẹ bạn đã sang tên cho anh bạn rồi thì sau này khi bố mẹ mất, bạn không thể đòi lại được.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
2. Thủ tục sang tên sổ đỏ đối với tài sản của người đã chết ?
>> Luật sư tư vấn luật dân sự, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Bộ luật Dân sự 2005 quy định:
Điều 465. Hợp đồng tặng cho tài sản
Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận.
Điều 467. Tặng cho bất động sản
1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu.
2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.
Như vậy, nếu căn nhà này là tài sản mà chồng chưa cưới của bạn mua tặng vợ cũ và có hợp đồng tặng cho tài sản theo đúng quy định của pháp luật thì căn nhà này là tài sản riêng của cô ấy. Và vì thế, khi cô ấy chết, chồng chưa cưới của bạn không có quyền sang tên căn nhà đó cho bạn. Căn nhà đó sẽ được chia thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Nếu khi cô ấy chết có để lại di chúc và di chúc hợp pháp thì những người được chỉ định trong di chúc có quyền hưởng di sản của người chết để lại.
Nếu cô ấy chết không để lại di chúc hoặc di chúc không hợp pháp thì di sản của người chết để lại sẽ được chia theo pháp luật cho những người sau:
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
(Điều 676 BLDS 2005)
Như vậy, theo quy định trên, nếu chồng chưa cưới của bạn và người chết chưa ly hôn trước khi cô ấy chết và nếu di sản chia theo pháp luật thì chồng chưa cưới của bạn cũng có quyền hưởng thừa kế một phần di sản bằng phần di sản mà con gái cô ấy được hưởng.
Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.
3. Có đổi được họ cho con khi người Cha đã chết không ?
>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự qua điện thoại, gọi: 1900.6162
Luật sư trả lời:
- Thay đổi họ cho cha đã chết của bạn.
Theo quy định tại Điều 16 Bộ luật dân sự năm 2015 được hướng dẫn như sau:
"Điều 16. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.
2. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.
3. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết."
Vậy năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là cha của bạn đã chấm dứt khi cha của bạn chết. Nên việc thay đổi họ cho cha của bạn là không được.
- Thay đổi họ của bạn thân bạn và các anh chị em của bạn từ họ Nguyễn sang họ Trần.
Theo quy định tại Điều 27 Bộ luật dân sự năm 2015 thì quyền thay đổi họ được quy định như sau:
"Điều 27. Quyền thay đổi họ
1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ trong trường hợp sau đây:
a) Thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại;
b) Thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi;
c) Khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ cho người đó theo họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ;
d) Thay đổi họ cho con theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc của con khi xác định cha, mẹ cho con;
đ) Thay đổi họ của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;
e) Thay đổi họ theo họ của vợ, họ của chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại họ trước khi thay đổi;
g) Thay đổi họ của con khi cha, mẹ thay đổi họ;
h) Trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.
2. Việc thay đổi họ cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó.
3. Việc thay đổi họ của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo họ cũ.
Vậy, nếu chứng minh được gia đình bạn do bị lưu lạc không xác định được nguồn gốc huyết thống mà bố bạn đã lấy họ Nguyễn thì gia đình bạn có thể đổi họ khi đã xác định được họ Trần chính là họ của nguồn gốc huyết thống của gia đình mình.
Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê, Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.
4. Tư vấn về nghĩa vụ tài sản cho người đã chết ?
>> Luật sư tư vấn Luật Dân sự gọi: 1900.6162
Trả lời:
Thứ nhất, về nghĩa vụ trả nợ của anh em bạn:
Theo quy định tại Điều 637 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội thì:
"Điều 637. Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
2. Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế.
3. Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác."
Như vậy, khi mẹ bạn mất, bạn và anh em của bạn có nghĩa vụ trả nợ số tiền mà mẹ bạn đã nợ ông B trước đó trong phạm vi di sản mình được nhận. Và việc trả nợ cho ông B còn dựa trên thứ tự ưu tiên thanh toán, sau khi thực hiện các nghĩa vụ trên, số di sản còn lại bao nhiêu thì anh em bạn mới dùng để trả cho ông B. Theo Điều 683 Bộ luật Dân sự 2005 về thứ tự ưu tiên thanh toán liên quan đến thừa kế thì Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác là một nghĩa vụ tài sản được thanh toán theo thứ tự ưu tiên được quy định tại Điều này. Cụ thể:
Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây:
1. Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng;
2. Tiền cấp dưỡng còn thiếu;
3. Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ;
4. Tiền công lao động;
5. Tiền bồi thường thiệt hại;
6. Thuế và các khoản nợ khác đối với Nhà nước;
7. Tiền phạt;
8. Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác
9. Chi phí cho việc bảo quản di sản;
10. Các chi phí khác."
Vì vậy, sau khi thực hiện các nghĩa vụ tài sản trên, thì anh em bạn mới thực hiện tiếp đến nghĩa vụ trả nợ cho ông B đối với khoản nợ trước đây của mẹ bạn. Còn người nào từ chối nhận di sản thì sẽ không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản trong quy định trên.
Thứ hai, việc thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất để bảo đảm trả nợ là chưa đúng quy định pháp luật vì theo quy định về thế chấp quyền sử dụng đất thì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất phải có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan có thẩm quyền và phải đăng ký giao dịch bảo đảm. Cụ thể, tại Điều 130 Luật Đất đai 2003 quy định: Hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước; trường hợp hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất. Tại Điều 2 Nghị định số 08/2000/NĐ-CP về đăng ký giao dịch bảo đảm (là văn bản có hiệu lực pháp lý vào thời điểm ký kết và thực hiện giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất trong vụ việc này) quy định việc thế chấp tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì phải đăng ký giao dịch bảo đảm. Quyền sử dụng đất là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu. Do đó, việc thế chấp quyền sử dụng đất tại vụ việc này phải đăng ký giao dịch bảo đảm. Vì thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất trong vụ việc vay tiền của mẹ bạn chỉ được lồng vào trong hợp đồng vay và không được công chứng, không được đăng ký giao dịch bảo đảm nên việc thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo trả nợ theo hợp đồng vay số 194 này là không có hiệu lực pháp lý. Khoản nợ của mẹ bạn đối với bên cho vay trở thành khoản vay không có bảo đảm. Do đó, không có căn cứ pháp lý để bên cho vay xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất khi mẹ của bạn không trả được nợ.
Mọi vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.
5. Công nhận và thực thi quyền sở hữu cá nhân: Thành phố Hồ Chí Minh công nhận tài sản cho người đã chết
“Sống lại” sau 11 năm chết?!
Tài sản là bất động sản (91 Lý Tự Trọng, phường Bến Thành, quận 1, TP.HCM) do bà Phạm Thị Bênh và Phạm Thị Thái cùng đứng tên sở hữu theo bằng khoán số 2046 sổ điền thổ Sài Gòn – tự do, do Ty Điền địa cấp ngày 11/7/1970; Phòng Chưởng khế Sài Gòn cấp tờ đoạn mãi ngày 8/12/1969, Sở thiết kế Sài Gòn cấp giấy phép xây dựng số 83.TK/BT ngày 24/2/1973 với quy mô cho phép xây dựng gồm một trệt, 2 lầu chiều rộng 4,2m, chiều dài 21,85m, tổng diện tích sử dụng là 282,8m2.
Tháng 8/1986, bà Bênh và bà Thái bán toàn bộ tầng trệt cùng toàn bộ lầu 2 và sân thượng cho bà Trần Thị Kim Dung, chỉ giữ lại lầu 1 có diện tích 82,5m2 để sử dụng. Năm 1989 bà Bênh bán cho bà Thái ½ lầu 1 của căn nhà trên nên bà Thái được sở hữu trọn vẹn lầu 1. Cuối năm 1989 bà Bênh qua đời. Kế đó, năm 1991, bà Dung bán cho vợ chồng ông Trần Văn Bằng – Nguyễn Thị Lan toàn bộ tầng trệt, tầng 2 và sân thượng căn nhà này. Năm 2000, bà Lan và ông Bằng lại bán toàn bộ diện tích này cho vợ chồng ông Dương Sách Khang – Hà Thanh Yến. Tất cả các hợp đồng mua bán nói trên cùng với việc sang tên đổi chủ đều thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Ngày 18/4/2001, bà Thái qua đời, con gái là bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt được thừa kế toàn bộ lầu 1 căn nhà 91 Lý Tự Trọng. Do có tranh chấp về lối đi giữa người thừa kế của bà Phạm Thị Thái (chủ sở hữu lầu 1), chủ sở hữu lầu 2 và sân thượng của căn nhà là ông Khang – bà Yến và đã được tòa án thụ lý giải quyết. Từ đây, một sự thật tưởng như đùa đã hé lộ khi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (sổ hồng) số 70101072290 do UBND TP.HCM cấp ngày 2/10/2001 là cấp cho hai người đã chết là bà Bênh và Thái.
Như vậy sổ hồng đã được cấp sau khi bà Bênh chết hơn 11 năm và bà Thái là gần 6 tháng. Căn cứ vào hồ sơ lưu trữ tại Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất TP.HCM, hồ sơ đề nghị cấp sổ hồng nhà 91 Lý Tự Trọng thể hiện khá rõ 2 giấy chứng tử của bà Bênh và bà Thái. Ấy thế mà sổ hồng được cấp vẫn đứng tên hai người “đã khuất” này?!
>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162
Chết: Quyền, nghĩa vụ chấm dứt…
Liên quan đến vấn đề này, một cán bộ Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất TP.HCM cho rằng: Quy trình cấp sổ hồng của nhà 91 Lý Tự Trọng là có “vấn đề”. Trong hồ sơ đã có văn bản trả lời ngày 14/9/2004 của Sở Xây dựng TP.HCM với nội dung: Nhà số 91 Lý Tự Trọng có phần diện tích trùng lắp tại tầng 1. Mặt khác, hồ sơ cũng thể hiện rõ những người đứng tên trên sổ hồng đều đã có giấy chứng tử trong hồ sơ đề nghị cấp sổ nên không thể xét cấp sổ cho người đã chết.
Ngoài ra Sở Xây dựng cũng đã đề nghị UBND quận 1, TP.HCM kiểm tra hồ sơ, xem xét giải quyết khiếu nại của ông Dương Sách Khang đúng quy định của pháp luật. Để bảo đảm quyền lợi của mình, công dân Dương Sách Khang có thể gửi đơn khiếu nại cho UBND TP. HCM, Sở Xây dựng TP.HCM và UBND quận 1 để nghị xem xét hủy bỏ sổ hồng số 21099/2001, vì không đảm bảo đúng trình tự cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà.
Luật sư Lê Quang Y, Phó Chủ nhiệm Đoàn luật sư tỉnh Đồng Nai nói việc Cơ quan có thẩm quyền cấp sổ hồng cho người đã chết là trường hợp “xưa nay hiếm”. Bởi năng lực pháp luật dân sự của cá nhân chấm dứt khi người đó chết (Khoản 3 Điều 14 Bộ luật Dân sự).
Do vậy, khi một người được xác định là đã chết thì mọi quan hệ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với người đó đều chấm dứt. Theo quy định tại điều 12 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất,… thì trường hợp cá nhân sử dụng đất chết trước khi trao giấy chứng nhận thì không cấp giấy chứng nhận cho người đã chết mà những người thừa kế của người đã chết làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 12 của Luật Nhà ở (sửa đổi bổ sung 2011) thì không ghi tên người đã chết trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, trừ trường hợp chủ sở hữu nhà ở đã nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chết trong thời hạn cấp giấy. Các trường hợp khác, khi lập hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận phải xác định người được thừa kế nhà ở đó theo quy định của pháp luật về dân sự để được ghi tên vào giấy chứng nhận. Do đó, trong trường hợp này khi phát hiện sổ hồng đã được cấp cho những người đã chết thì cơ quan đã cấp sổ phải thu hồi lại sổ hồng để cấp lại cho những người thừa kế theo đúng quy định pháp luật – Luật sư Y cho biết.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT ĐIỆN TỬ - TRẦN TỐ
Trích dẫn từ: http://www.phapluatvn.vn/