Trong thực tế cuộc sống, bạn sẽ thường bắt gặp nhiều trường hợp một cá nhân nào đó bỗng nhiên mất tích trong một khoảng thời gian dài mà hàng xóm xung quanh hoặc thậm chí người thân trong gia đình cũng không biết họ đang ở đầu. Điều đó có thể gầy ảnh hưởng đến các thành viên khác trong gia đình cũng như những người có quyển lợi liên quan đến cá nhân này. Trong trường hợp đó, pháp luật quy định như thế nào về tài sản của họ?

Câu hỏi: Câu hỏi: Thưa luật sư, tôi và chồng kết hôn được 5 năm. Ba năm trước chồng tôi bỏ nhà ra đi, không ai biết chồng tôi ở đâu. Sau khi được tòa án tuyên bố vắng mặt tại nơi cư trú, tôi là người quản lý tài sản cho chồng tôi. Nhưng hiện tai, chồng tôi vẫn chưa rõ tung tích, tôi muốn làm yêu cầu Tòa án tuyên bố chồng tôi mất tích để thực hiện thủ tục li hôn thì phải làm thế nào?

Luật sư tư vấn: Theo quy định của pháp luật, việc đơn phương ly hôn chỉ được thực hiện khi không có mặt của bên bị đơn trong trường hợp bị đơn mất tích hai năm liền trở lên . Sau khi ra thông báo tìm kiếm nhưng vẫn không xác định được thông tin chồng của bạn và kể từ ngày bỏ đi đã biệt tích hai năm liền trở lên thì yêu cầu tòa án tuyên bố mất tích. Sau đó gửi đơn xin ly hôn cùng các giấy tờ liên quan tới Tòa án nơi bạn đang cư trú để làm thủ tục xin ly hôn như thủ tục chung.

1. Pháp luật quy định như thế nào đối với người mất tích?

Mất tích thường được quan niệm là “không còn thấy tung tích đâu nữa, cũng không rõ còn hay chết”. Có thể hiểu mất tích là tình trạng của một cá nhân vắng mặt liên tục trong một thời gian dài mà không rõ họ còn sống hay đã chết do không có tin tức gì liên quan đến cá nhân đó.

Pháp luật Việt Nam quy định để có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố một người nào đó là mất tích, cá nhân này phải biệt tích từ 02 năm liền trở lên và mặc dù đã áp dụng đẩy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức. Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó. Trong trường hợp bạn không thể xác định được ngày có tin tức cuối cùng là ngày nào thì thời hạn 02 năm sẽ tính từ ngày đẩu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

2. Điều kiện tuyến bố một người mất tích

- Thứ nhất: Điều kiện về thời gian biệt tích: Cá nhân đã biệt tích hai năm liền trở lên và không có một tin tức nào về người đó còn sống hay đâ chết. Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó. Thời hạn 02 năm này phải có tính liên tục, không bị ngắt quãng, gián đoạn. Có nghĩa là nếu một người vắng mặt tại nơi cư trú khoảng 1 năm sau đó có một tin tức rằng người đó vẫn sống tại một nơi khác rồi sau đó lại biệt tích 1 năm nữa thì không thể tính cộng hai khoảng thời gian đó lại thành 2 năm được.

- Thứ hai: Điều kiện có đơn yêu cầu tuyên bố cá nhân mất tích: Người có quyền, lợi ích liên quan có đơn yêu cầu gửi đến Toà án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu tuyên bô cá nhân đó bị mất tích. Trên cơ sở đơn yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan này, Toà án sẽ xem xét và ra tuyên bố phù hợp. Người có quyền và lợi ích liên quan có thể là những chủ thể có liên quan đến các lợi ích vật chất, điển hình là tài sản đối với cá nhân mất tích hoặc liên quan đến nhân thân (đặc biệt trong quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng). Sau khi đáp ứng được thời gian biệt tích luật định, người có quyền, lợi ích liên quan mới có quyền gửi đơn yêu cầu đến toà án có thẩm quyền và đương nhiên phải có các bằng chứng chứng minh thời gian biệt tích này.

- Thứ ba: Điều kiện về thông báo tìm kiếm thông tin: Trên cơ sở đơn yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan tuyên bố một cá nhân mất tích, Toà án có thẩm quyền tiến hành thủ tục tìm kiếm thông tin. Thủ tục này nhằm mục đích đảm bảo cá nhân đó thực sự bị biệt tích và không có ai có thông tin xác thực về nơi cá nhân này đang sinh sống. Đồng thời, quy trình tìm kiếm thông tin cũng giúp chính cá nhân đang được yêu cầu tuyên bố mất tích có điều kiện nắm bắt được nhu cầu của các chủ thể có quyền, lợi ích liên quan tìm kiếm mình. Pháp luật hiện hành quy định, việc tìm kiếm thông tin cá nhân đang được yêu cầu tuyên bố mất tích này phải được đăng trên các kênh thông tin quốc gia trong ba số liên tiếp.

- Thứ tư: Điều kiện có tuyên bổ của Toà án về cá nhân mất tích: Khi thoả mãn các điều kiện nêu trên, Toà án xem xét và ra quyết định tuyên bố cá nhân được yêu cầu có mất tích hay không. Nếu Toà án ra quyết định tuyên bố cá nhân đó mất tích thì lúc đó, cá nhân mới chính thức trở thành người bị tuyên bố mất tích và dẫn đến một số hậu quả pháp lý nhất định như về quản lý tài sản, quan hệ hôn nhân hoặc tư cách chủ thể. Trường hợp nếu đã có quyết định trước đó của Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú thì phải có bản sau quyết định đó.

3. Tại sao cần tuyến bố một người mất tích?

- Thứ nhất: Tương tự như mục đích của việc yêu cầu tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, thủ tục tuyên bố một người là mất tích nhằm giúp những người có liên quan của cá nhân này có thể giải quyết những vấn đê' về tài sản và nhân thân của cá nhân mất tích này. Ví dụ, nếu người vợ hoặc người chồng đã biệt tích trong một thời gian lâu mà người còn lại không có tung tích và muốn ly hôn thì họ phải thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên người vợ hoặc chồng của mình đã bị mất tích trước, sau đó họ mới có thể yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Thứ hai: Việc ra thông báo và tuyên một người vắng mặt tại nơi cư trú sẽ góp phần giúp cho cơ quan có thẩm quyền tang cường quản lý về nhân khẩu, hộ tịch.

Thứ ba: Việc ra thông báo và tuyên một người vắng mặt tại nơi cư trú sẽ là một căn cứ khi tiến hành giải quyết các vụ việc liên quan đến tố tụng dân sự.

3. Trình tự, thủ tục tuyên bố một người mất tích

Việc yêu cầu Tòa án tuyên một người mất tích được thực hiện theo trình tự thủ tục giải quyết việc dân sự.

Bước 1: Nộp hồ sơ pháp lý yêu cầu Tòa án tuyên một người mất tích

Đối với phần hồ sơ nộp cho Tòa án, bạn chuẩn bị hồ sơ như sau:

- Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự;

- Bản sao chứng thực các giấy tờ tùy thân của người nộp đơn và người được yêu cầu tuyên bố mất tích;

- Các chứng cứ để chứng minh người bị yêu cẩu đã biệt tích 02 năm liền trở lên; và

- Các tài liệu, chứng cứ về việc người yêu cầu đã áp dụng đẩy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm. Trường hợp trước đó đã có quyết định của Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú thì bạn phải gửi kèm bản sao quyết định đó cho Tòa án.

Bước 2: Tòa án tiếp nhận hồ sơ và giải quyết đơn yêu cầu tuyên một người mất tích

Khi bạn đã nộp đủ các tài liệu, chứng cứ cần thiết, Tòa án sẽ thụ lý đơn yêu cầu của bạn để xem xét giải quyết. Trong vòng 20 ngày kể từ ngày thụ lý, Tòa án sẽ ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cẩu tuyên bố mất tích. Thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên. Nếu thời hạn thông báo kết thúc mà không có tin tức gì của người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, Tòa án sẽ mở phiên họp để xét đơn yêu cầu của bạn trong vòng 10 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn thông báo này.

Trong trường hợp chấp thuận yêu cầu của bạn, Tòa án sẽ ban hành quyết định tuyên bố người bị yêu cầu là mất tích. Trong trường hợp bạn còn có yêu cẩu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích thì trong quyết định tuyên bố một người mất tích, Tòa án cũng sẽ quyết định áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người đó theo quy định của Bộ luật Dần sự.

4. Hủy tuyên bố mất tích

Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích đối với người đó. Theo đó, người bị tuyên bố là mất tích sẽ được nhận lại tài sản của mình sau khi đã thanh toán chi phí quản lý cho người quản lý tài sản. Tuy nhiên, trong trường hợp vợ hoặc chổng của họ đã ly hôn theo quyết định của Tòa án thì quyết định cho ly hôn này vẫn sẽ có hiệu lực pháp luật. Nếu muốn khôi phục lại quan hệ hôn nhân với vợ hoặc chồng trước đây, họ phải đăng ký kết hôn lại theo quy định pháp luật vê' hôn nhân gia đình.

Thủ tục để bạn yêu cẩu hủy quyết định tuyên bố một người mất tích được thực hiện thủ tục giải quyết việc dân sự.

5. Quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích

Điều 69 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích như sau: Người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại Điều 65 của Bộ luật này tiếp tục quản lý tài sản của người đó khi người đó bị Tòa án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 66 và Điều 67 của Bộ luật này.

Điều 65 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú như sau:

"1. Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án giao tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú cho người sau đây quản lý:

a) Đối với tài sản đã được người vắng mặt uỷ quyền quản lý thì người được uỷ quyền tiếp tục quản lý;

b) Đối với tài sản chung thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý;

c) Đối với tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tục quản lý; nếu vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý.

2. Trường hợp không có những người được quy định tại khoản 1 Điều này thì Tòa án chỉ định một người trong số những người thân thích của người vắng mặt tại nơi cư trú quản lý tài sản; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản.”

* Bên cạnh đó người quản lý tài sản có quyền:

– Quản lý tài sản của người vắng mặt

– Trích một phần tài sản của người vắng mặt để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn, nghĩa vụ tài chính khác của người vắng mặt.

– Được thanh toán các chi phí cần thiết trong việc quản lý tài sản của người vắng mặt.

* Pháp luật quy định người quản lý tài sản có các nghĩa vụ sau đây:

– Giữ gìn, bảo quản tài sản của người vắng mặt như tài sản của chính mình.

– Bán ngay tài sản là hoa màu, sản phẩm khác có nguy cơ bị hư hỏng.

– Thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thanh toán nợ đến hạn, nghĩa vụ tài chính khác của người vắng mặt bằng tài sản của người đó theo quyết định của Tòa án.

– Giao lại tài sản cho người vắng mặt khi người này trở về và phải thông báo cho Tòa án biết; nếu có lỗi trong việc quản lý tài sản mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.