1. Tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác

Tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác được ghi nhận tại Điều 339 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đây là tội danh mà người phạm tội giả danh, mạo danh các chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác trong các tổ chức, cơ quan nhà nước để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật mà không phải lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Quy định về tội Giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác (Điều 339 Bộ luật Hình sự năm 2015).

Giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác là hành vi của một người không có chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác nhưng đã mạo danh là mình có chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác đó để thực hiện hành vi trái pháp luật.

Theo quy định tại Điều 339 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) thì có thể Tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác là hành vi dùng thủ đoạn gian dối bằng lời nói, chữ viết, giấy tờ, trang phục, phù hiệu... làm cho người khác lầm tưởng là người có chức vụ, cấp bậc, để thực hiện hành vi trái pháp luật.

Cấu thành tội giả mại chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác

 

Chủ thể

Chủ thể của tội này là chủ thể thường, bất kỳ ai có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đến một độ tuổi theo quy định của Bộ luật hình sự thì đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm này. (Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017).

 

Khách thể

+ Hành vi giả mạo chức vụ, cấp bậc xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang. Cụ thể là xâm phạm đế trật tự quản lý hành chính Nhà nước về chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác trong cơ quan, tổ chức, đơn vị lực lượng vũ trang.

+ Đối tượng tác tác động là chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác mà Nhà nước quy định cho cán bộ, nhân viên trong cơ quan, tổ chức, đơn vị lực lượng vũ trang.

Chức vụ của một người là do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ.

Cấp bậc là trật tự chức vụ trong quân đội, chính quyền, đoàn thể. Trật tự này được quy định tùy theo từng ngành, từng cơ quan, tổ chức. Ví dụ: Trật tự chức vụ trong ngành Tòa án của tỉnh là: Chánh án, Phó chánh án, Chánh tòa, Phó chánh tòa, Trưởng phòng, Phó trưởng phòng...; Trong ngành kiểm sát tỉnh là Viện trưởng, Phó viện trưởng, Trưởng phòng, Phó trưởng phòng,...; Trong ngành công an tỉnh là Giám đốc, Phó Giám đốc, Trưởng phòng, Phó trưởng phòng, Đội trưởng, Phó Đội trưởng,...

Vị trí công tác là nhiệm vụ, công việc của một cá nhân cụ thể được bổ nhiệm, giao phó trong cơ quan, tổ chức, lực lượng vũ trang,...

 

Mặt khách quan

Hành vi khách quan của tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác gồm 02 hành vi:

+ Hành vi giả mạo chức vụ, cấp bậc: Đây là hành vi giả mạo, mạo nhận chức vụ, cấp bậc không phải mình có hợp pháp

+ Thực hiện hành vi trái pháp luật.

Hai hành vi này phải gắn liền với nhau cấu thành tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác. Việc giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác mà không đi kèm với việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật thì không cấu thành tội phạm này.

(Căn cứ điều 339 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017)

Lưu ý: Hành vi trái pháp luật mà người phạm tội thực hiện nếu có đủ dấu hiệu cấu thành một tội phạm độc lập khác thì người phạm tội còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà họ đã thực hiện.

 

Mặt chủ quan

Lỗi cố ý trực tiếp: Chủ thể thực hiện hành vi nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra và mong muốn hậu quả đó xảy ra.

Xử lý hành vi giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác

Người nào giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác thực hiện hành vi trái với pháp luật nhưng không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

 

2. Tội Cưỡng đoạt tài sản

Cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản. Tội cưỡng đoạt tài sản cũng là một trong những tội phạm thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu của công dân đã được quy định cụ thể tại Điều 170 Bộ luật hình sự Việt Nam.

Cấu thành tội phạm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

 

Mặt khách quan

Mặt khách quan của Điều 170 được thực hiện bằng một trong hai loại hành vi: có hành vi khách quan “đe doạ sẽ dùng vũ lực…” là hành vi doạ sẽ gây thiệt hại đến sức khoẻ, tính mạng trong tương lai nếu không thoả mãn yêu cầu chiếm đoạt của người phạm tội. Khác với tội “Cướp tài sản” đe doạ “dùng vũ lực ngay tức khắc” thì tội “Cưỡng đoạt tài sản” là đe doạ “sẽ dùng vũ lực” tức là dùng vũ lực trong tương lai, có khoảng cách về thời gian. Sự đe doạ này không có tính nguy hiểm như tội cướp. 

Người bị đe doạ còn có điều kiện để chống cự lại, có thời gian để báo cáo với cơ quan có thẩm quyền xử lý trước khi hành vi chiếm đoạt xảy ra. Hành vi khác uy hiếp về mặt tinh thần người quản lý tài sản. Doạ tố cáo về hành vi phạm pháp hoặc tố cáo về vấn đề đời tư. Tội phạm hoàn thành khi tội phạm  thực hiện một trong hai hành vi trên. Đây là điểm khác nhau cơ bản của hành vi đe dọa dùng vũ lực trong tội cưỡng đoạt tài sản với hành vi đe dọa dùng dùng ngay tức khắc vũ lực trong tội cướp tài sản. Trong tội cướp tài sản, người bị đe dọa không có sự lựa chọn, bị tê liệt ý chí và tê liệt sự phản kháng, họ sẽ bị tấn công “tức khắc” bằng vũ lực nếu không thỏa mãn yêu cầu của người phạm tội.

 

Khách thể

Tội cưỡng đoạt  tài sản trực tiếp xâm hại đến 2 quan hệ xã hội  là quan hệ nhân thân, đó là quan hệ về tính mạng, sức khoẻ con người và quan hệ tài sản, hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi khách quan phạm tội gây ra cho quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự. Trong tội cưỡng đoạt tài sản, hậu quả nguy hiểm cho xã hội trực tiếp là những thiệt hại về vật chất và con người. 

 

Chủ thể

Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể, ở đây chủ thể của tội phạm là bất kỳ ai từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự.

 

 Mặt chủ quan

+ Lỗi cố ý trực tiếp

+ Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc. Mục đích chiếm đoạt tài sản luôn phải xuất hiện trước hoặc muộn nhất là đồng thời với thời điểm thực hiện hành vi khách quan.

Tội “Cưỡng đoạt tài sản” là nhóm tội có cấu thành hình thức. Tức là khi người phạm tội có hành vi mà điều luật mô tả thì tội phạm đã hoàn thành. Tội này có khung hình phạt cao nhất là 20 năm tù.

 

3. So sánh tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Khách thể của tội phạm

Tội phạm quy định tại Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015: Xâm phạm đến quan hệ sở hữu về tài sản;

Điều 339 Bộ luật hình sự năm 2015 xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước.

 

Đối tượng tác động

Tội phạm quy định tại Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015: Là tài sản của người khác.

Tội phạm quy định tại Điều 339 Bộ luật hình sự năm 2015: Là các quy định của Nhà nước trong lĩnh lực quản lý hành chính, cụ thể là các quy định liên quan đến chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác.

 

Mặt khách quan của tội phạm

Tội phạm quy định tại Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015: Được thực hiện bằng hành vi dùng thủ đoạn uy hiếp về tinh thần để chiếm đoạt tài sản;

Tội phạm quy định tại Điều 339 Bộ luật hình sự năm 2015: Có hành vi giả mạo để thực hiện các hành vi trái pháp luật mà không có mục đích chiếm đoạt tài sản.

Nếu có hành vi giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác nhằm chiếm đoạt tài sản thì truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm sổ hữu.

 

Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự

Tội phạm quy định tại Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015: Dấu hiệu hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc;

Tội phạm quy định tại Điều 339 Bộ luật hình sự năm 2015: Việc giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác gắn liền với việc thực hiện hành vi trái pháp luật. 

Trên đây là chia sẻ của Luật Minh Khuê liên quan đến So sánh tội Cưỡng đoạt tài sản tại Điều 170 Bộ luật Hình sự 2015 và tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, đơn vị công tác tại Điều 339 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Quý khách hàng có nhu cầu thì tham khảo thêm nội dung bài viết sau của công ty Luật Minh khuê: So sánh tội giết người và tội cố ý gây thương tích làm chết người?

Công ty Luật Minh Khuê mong muốn gửi đến quý khách hàng những thông tin tư vấn hữu ích. Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, hãy liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Hoặc quý khách hàng gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng!