* Giống nhau:
+ Mặt khách quan: Đều dùng những thủ đoạn gian dối để thực hiện hành vi phạm tội.
+ Mặt chủ quan: Đều được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý; Đều có mục đích là dấu hiệu bắt buộc để định tội.
+ Chủ thể: Đều do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định.
* Khác nhau:
+ Khách thể của tội phạm:
Tội phạm quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015: Xâm phạm đến quan hệ sỏ hữu về tài sản;
Điều 339 Bộ luật hình sự năm 2015 xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước.
Đối tượng tác động:
Tội phạm quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015: Là tài sản của người khác.
Tội phạm quy định tại Điều 339 Bộ luật hình sự năm 2015: Là các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính, cụ thể là các quy định liên quan đến chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác.
+ Mặt khách quan của tội phạm:
Tội phạm quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015: Thể hiện ở hành vi dùng thủ đoạn gian dối rất đa dạng để người khác tin là thật từ đó chiếm đoạt tài sản;
Tội phạm quy định tại Điều 339 Bộ luật hình sự năm 2015: Có hành vi giả mạo để thực hiện các hành vi trái pháp luật mà không có mục đích chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác nhằm chiếm đoạt tài sản thì truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm sở hữu.
+ Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự:
Tội phạm quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015: Là tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưói 2 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tạicác điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Gây ảnh hưỏng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Tài sản là phương tiện kiếm sông chính của người bị hại và gia đình họ.
Tội phạm quy định tại Điều 339 Bộ luật hình sự năm 2015: Việc giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác gắn liền với việc thực hiện hành vi trái pháp luật.
Luật Minh Khuê phân tích chi tiết hơn về hai tội danh này như sau:
1. Tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác
Tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác được ghi nhận tại Điều 339 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đây là tội danh mà người phạm tội giả danh, mạo danh các chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác trong các tổ chức, cơ quan nhà nước để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật mà không phải lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Quy định về tội Giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác (Điều 339 Bộ luật Hình sự năm 2015).
Giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác là hành vi của một người không có chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác nhưng đã mạo danh là mình có chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác đó để thực hiện hành vi trái pháp luật.
Theo quy định tại Điều 339 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) thì có thể Tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác là hành vi dùng thủ đoạn gian dối bằng lời nói, chữ viết, giấy tờ, trang phục, phù hiệu... làm cho người khác lầm tưởng là người có chức vụ, cấp bậc, để thực hiện hành vi trái pháp luật.
Cấu thành tội giả mại chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác
Chủ thể:
Chủ thể của tội này là chủ thể thường, bất kỳ ai có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đến một độ tuổi theo quy định của Bộ luật hình sự thì đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm này. (Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017).
Khách thể
+ Hành vi giả mạo chức vụ, cấp bậc xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang. Cụ thể là xâm phạm đế trật tự quản lý hành chính Nhà nước về chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác trong cơ quan, tổ chức, đơn vị lực lượng vũ trang.
+ Đối tượng tác tác động là chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác mà Nhà nước quy định cho cán bộ, nhân viên trong cơ quan, tổ chức, đơn vị lực lượng vũ trang.
Chức vụ của một người là do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ.
Cấp bậc là trật tự chức vụ trong quân đội, chính quyền, đoàn thể. Trật tự này được quy định tùy theo từng ngành, từng cơ quan, tổ chức. Ví dụ: Trật tự chức vụ trong ngành Tòa án của tỉnh là: Chánh án, Phó chánh án, Chánh tòa, Phó chánh tòa, Trưởng phòng, Phó trưởng phòng...; Trong ngành kiểm sát tỉnh là Viện trưởng, Phó viện trưởng, Trưởng phòng, Phó trưởng phòng,...; Trong ngành công an tỉnh là Giám đốc, Phó Giám đốc, Trưởng phòng, Phó trưởng phòng, Đội trưởng, Phó Đội trưởng,...
Vị trí công tác là nhiệm vụ, công việc của một cá nhân cụ thể được bổ nhiệm, giao phó trong cơ quan, tổ chức, lực lượng vũ trang,...
Mặt khách quan
Hành vi khách quan của tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác gồm 02 hành vi:
+ Hành vi giả mạo chức vụ, cấp bậc: Đây là hành vi giả mạo, mạo nhận chức vụ, cấp bậc không phải mình có hợp pháp
+ Thực hiện hành vi trái pháp luật.
Hai hành vi này phải gắn liền với nhau cấu thành tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác. Việc giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác mà không đi kèm với việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật thì không cấu thành tội phạm này.
(Căn cứ điều 339 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017)
Lưu ý: Hành vi trái pháp luật mà người phạm tội thực hiện nếu có đủ dấu hiệu cấu thành một tội phạm độc lập khác thì người phạm tội còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà họ đã thực hiện.
Mặt chủ quan
Lỗi cố ý trực tiếp: Chủ thể thực hiện hành vi nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra và mong muốn hậu quả đó xảy ra.
Xử lý hành vi giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác
Người nào giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác thực hiện hành vi trái với pháp luật nhưng không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
(Căn cứ Điều 339 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017)
2. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Điều 174 Bộ luật hình sự 2015
Lừa đảo là hành vi được thực hiện phổ biến hiện nay nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác bằng các thủ đoạn gian dối. Tội phạm về lừa đảo chiếm đoạt tài sản không chỉ gây thiệt hại về tài sản cho nhà nước, xã hội và công dân mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình trật tự an toàn xã hội. Tội phạm có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015
Quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định về việc truy cứu trách nhiệm đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 139. Theo đó, khi một người thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà hành vi đó thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội này. Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã hết hiệu lực và thay thế là Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174.
"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này về một trong các tội quy định tại điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d Khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiển từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".
Quy định mới của Bộ luật hình sự năm 2015 có nhiều thay đổi so với bộ luật hình sự cũ về hình phạt cũng như những tình tiết định khung về số lượng tiền lừa đảo hoặc chiếm đoạt.
Khái niệm: lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó.
Cấu thành tội phạm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Chủ thể của tội phạm
Chủ thể về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng tương tự đối với các tội xâm phạm sở hữu khác, theo đó cá nhân phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi vi phạm pháp luật hình sự khi cá nhân đó có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đến độ tuổi luật định được quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015.
Quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Bộ luật sự 2015 đã có sự thay đổi so với Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009 ("Bộ luật Hình sự 1999"). Theo đó, Bộ luật Hình sự 1999 quy định:
"Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiệm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng."
Theo quy định trên Điều 139 Bộ luật Hình sự 1999 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này. Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự 2015 quy định đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì chỉ người từ đủ 16 tuổi trở lên theo quy định tại Điều 12 thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu tài sản. Điểm khác biệt giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và các tội khác như tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp đoạt tài sản, là tội cướp đoạt tài sản không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khỏe là tình tiết định khung hình phạt. Do đó, nếu sau khi đã chiếm đoạt tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát gây chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự các tội khác như tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Mặt khách quan của tội phạm
a. Hành vi khách quan
Hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành động "chiếm đoạt" nhưng chiếm đoạt bừng thủ đoạn gian dối. Thủ đoạn gian dối ở đây có thể được hiểu bằng nhiều hành vi và cách thức khác nhau nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đối với tài sản bị chiếm đoạt để chủ sỏ hữu hoặc người quản lý tài sản tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội. Tuy nhiên, hành vi thể hiện thủ đoạn gian dối chỉ là phương thức để người phạm tội thực hiện mục đích của mình là "chiếm đoạt tài sản" chứ không phải là hành vi khách quan. Đối với loại tội này, hành vi chiếm đoạt mới là hành vi khách quan của tội phạm.
Một điểm cần lưu ý là đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì thủ đoạn gian dối của người phạm tội luôn luôn phải có trước khi người bị hại giao tài sản cho người phạm tội. Nếu thủ đoạn gian dối được thực hiện sau khi người phạm tội nhận được tài sản thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
b. Hậu quả
Mục đích của người phạm tội khi thực hiện hành vi gian dối là nhằm chiếm đoạt tài sản. Do đó, hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Có thể nói thiệt hại về tài sản là căn cứ để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên mới cấu thành tội phạm, trường hợp tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 thì kèm theo các điều kiện mà Điều này quy định.
Các điều kiện đó bao gồm: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp phải có thiệt hại về tài sản thì mới cấu thành tội phạm. Đối với một số trường hợp, người phạm tội đã thực hiện xong hành vi phạm tội nhưng không chiếm đoạt được tài sản đó thì vẫn có thể bị coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Các trường hợp này thường được áp dụng đối với hành vi phạm tội nhằm chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn như ô tô, máy tính xách tay...
Ngoài ra, tại khoản 2, 3, 4 Điều 179 Bộ luật dân sự 2015 cũng quy định về các tình tiết tăng nặng đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, hay lợi dụng thiên tai, dịch bệnh,... Theo đó, tùy từng mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội mà người phạm tội sẽ bị xác định khung hình phạt phù hợp.
Mặt chủ quan của tội phạm
Như đã phân tích, mong muốn của người phạm tội khi thực hiện hành vi là chiếm đoạt tài sản, do đó, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện do cố ý. Mong muốn chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện hành vi hành vi. Trường hợp sau khi đã có tài sản một cách hợp pháp rồi mới có ý định chiếm đoạt thì không phải là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Vì vậy, có thể nói mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, ngoài mục đích chiếm đoạt, người phạm tội còn có thể có những mục đích khác cũng với mục đích chiếm đoạt hoặc chấp nhận mục đích chiếm đoạt của người đồng phạm khác thì người phạm tội cũng chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Các khung hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015
* Khung 1
Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
- Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
- Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
* Khung 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
- Có tổ chức;
- Có tính chất chuyên nghiệp;
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
- Tái phạm nguy hiểm;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
- Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
* Khung 3: Phạm tội thuộc các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ từ 07 năm đến 15 năm:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
- Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
* Khung 4: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
* Hình phạt bổ sung
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
(Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017)
Mức phạt chính đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trường hợp hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa đủ điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017), thì người có hành vi vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính.
Cụ thể theo khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, người dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác thì sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.
Ngoài ra, người có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn phải chịu hình phạt bổ sung và thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả, cụ thể như sau:
- Hình phạt bổ sung:
+ Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
+ Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính.
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc nộp số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
3. So sánh dấu hiệu pháp lý tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác quy định tại Điều 339 Bộ luật Hình sự năm 2015 với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015
* Giống nhau:
+ Mặt khách quan: Đều dùng những thủ đoạn gian dối để thực hiện hành vi phạm tội.
+ Mặt chủ quan: Đều được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý, đều có mục đích là dấu hiệu bắt buộc để định tội.
* Khác nhau:
+ Khách thể của tội phạm:
Tội phạm quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xâm phạm đến quan hệ sở hữu về tài sản;
Điều 339 Bộ luật Hình sự năm 2015 xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước.
Đối tượng tác động:
Tội phạm quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015: Là tài sản của người khác.
Tội phạm quy định tại Điều 339 Bộ luật hình sự năm 2015: Là các quy định của nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính, cụ thể là các quy định liên quan đến chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác.
+ Mặt khách quan của tôi phạm:
Tội phạm quy định tại Điều 174 Bộ luật hÌnh sự năm 2015: Thể hiện ở hành vi dùng thủ đoạn gian dối rất đa dạng để người khác tin là thật từ đó chiếm đoạt tài sản;
Tội phạm quy định tại ĐIều 339 Bộ luật hình sự năm 2015: Có hành vi giả mạo để thực hiện các hành vi trái với pháp luật mà không có mục đích chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác nhằm chiếm đoạt tài sản thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm sở hữu.
+ Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự:
Tội phạm quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015: là tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, xan toàn xã hội; Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
Tội hạm quy định tại Điều 339 Bộ luật hình sự năm 2015: Việc giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác gắn liền với việc thực hiện hành vi trái pháp luật.
Trên đây là toàn bộ bài viết mà Luật Minh Khuê muốn cung cấp đến bạn đọc tham khảo. Nếu có thắc mắc vui lòng liên hệ tời tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến hotline 1900.6162 để được chuyên viên pháp luật tư vấn trực tiếp. Xin chân thành cảm ơn!