Trong bối cảnh pháp luật hình sự Việt Nam, một trong những thách thức lớn nhất đối với các nhà lập pháp, cơ quan tố tụng và ngay cả công chúng là việc phân biệt rõ ràng giữa các tội danh có dấu hiệu hành vi tương đồng. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sảnTội lừa dối khách hàng là hai ví dụ điển hình. Cả hai đều có yếu tố cốt lõi là hành vi “gian dối”, tuy nhiên, bản chất pháp lý, khách thể bị xâm hại và hệ quả hình sự của chúng lại hoàn toàn khác nhau. Việc xác định sai tội danh không chỉ ảnh hưởng đến việc áp dụng pháp luật một cách chính xác mà còn có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý nghiêm trọng đối với cả người phạm tội và người bị hại. Bài viết này sẽ đi sâu vào phân tích sự khác biệt giữa hai tội danh, và các án lệ thực tiễn để làm sáng tỏ sự khác biệt pháp lý cốt lõi, cung cấp một góc nhìn toàn diện và chuyên sâu về hai tội danh thường gây nhầm lẫn này.   

1. Phân biệt Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Tội lừa dối khách hàng

1.1. Điểm giống giữa Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Tội lừa dối khách hàng

Đều là tội phạm có yếu tố "gian dối": Cả hai tội danh đều sử dụng thủ đoạn gian dối làm phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dùng thủ đoạn gian dối để nạn nhân tin tưởng và tự nguyện giao tài sản , trong khi Tội lừa dối khách hàng gian lận trong việc cân, đong, đo, đếm, tính gian để thu lợi bất chính trong giao dịch mua bán.  

Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp: Cả hai tội đều được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội, nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi để đạt được mục đích.  

Hành vi chuyển dịch tài sản bất hợp pháp: Cả hai tội danh đều có hành vi chuyển dịch bất hợp pháp tài sản của người khác. Trong Tội lừa đảo, đó là việc chiếm đoạt toàn bộ tài sản , còn trong Tội lừa dối khách hàng, đó là việc thu lợi bất chính từ hành vi gian lận trong giao dịch.  

Cùng được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015: Cả hai tội danh này đều được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

1.2. Điểm khác nhau giữa Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Tội lừa dối khách hàng

Nội dung căn cứ pháp lý Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

 Tội lừa dối khách hàng

Căn cứ pháp lý Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 Điều 198 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 
Khách thể Khách thể của tội này là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của con người và các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ sở hữu của con người. Khách thể của tội phạm này là xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế cụ thể là xâm phạm vào lợi ích vật chất của khách hàng thông qua việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch.
Mặt khách quan

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn đưa ra những thông tin gian dối làm cho người có tài sản (Chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản) nhầm lẫn và tin đó là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối. Khi giao tài sản chủ tài sản không biết mình bị lừa dối. Họ có thể phát hiện ra ngay sau khi trao tài sản nhưng bản chất của hành vi chiếm đoạt là dựa trên thủ đoạn lừa dối thì vẫn bị xử lý về tội này.

Tội này được thực hiện bằng phương thức bí mật chiếm đoạt tài sản người phạm tội thực hiện hai hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt, hai hành vi này phải luôn luôn xuất hiện cùng nhau Trong đó hành vi gian dối là điều kiện để thực hiện việc chiếm đoạt còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và kết quả của hành vi gian dối. Gian dối là hành vi đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật.Để lừa được chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, người phạm tội dử dùng nhiều cách khác nhau như dùng thủ đoạn để thực hiện rất đa dạng có thể qua lời nói hoặc qua hành động như: sử dụng giấy tờ giả, giả danh người có chức vụ, quyền hạn. giả danh cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội để thông qua việc ký kết hợp. Để xác định hành vi gian dối, thường căn cứ vào các chứng từ, tài liệu, giấy tờ giả (như Hợp đồng mua bán, Giấy chứng nhận sở hữu nhà, đất, giấy vay tiền…) mà đối tượng dùng để tạo niềm tin cho chủ tài sản, làm cho chủ tài sản tin để giao tài sản để xác định. Ví dụ: Trong các vụ án lừa đảo Ngân hàng, đối tượng phạm tội thường xây dựng phương án kinh doanh khống, làm giả hồ sơ tài sản thế chấp…để được vay vốn sau đó chiếm đoạt mà không có khả năng trả nợ.

Thủ đoạn gian dối của người phạm tội bao giờ cũng phải có trước khi có việc giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội thì mới là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nếu thủ đoạn gian dối lại có sau khi người phạm tội nhận được tài sản thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy từng trường hợp cụ thể mà thủ đoạn gian dối đó có thể là hành vi che giấu tội phạm hoặc là hành vi phạm tội khác như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có cấu thành vật chất, chính vì vậy việc xác định tài sản bị chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc, đây là dấu hiệu định lượng để xác định cấu thành cơ bản hoặc cấu thành định khung tăng nặng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tội phạm được hoàn thành khi hành vi chiếm đoạt tài sản đã xảy ra. Một người bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác .

Khác với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi thuộc mặt khách quan của tội lừa dối khách hàng là hành vi cân, đo, đong đếm, tính gian hàng hóa, không đúng với số lượng, trọng lượng, khối lượng, kích thước thực tế của từng loại hàng hóa trong việc mua bán làm thiệt hại nghiêm trọng cho khách hàng hoặc đánh tráo hàng hóa. Thủ đoạn gian dối trong việc mua bán được hiểu là những thủ đoạn làm cho khách hàng bị nhầm lẫn tưởng mình đã nhận đúng, mua đúng loại hàng với chất lượng như các bên đã thỏa thuận ban đầu.

Các hành vi mà người phạm tội thực hiện gây nên thiệt hại nghiêm trọng cho khách hàng. đã bị xử phạt hành chính về hành vi lừa dối khách hàng hoặc đã bị kết án về tội lừa dối khách hàng nhưng chưa được xóa án tích mà tiếp tục vi phạm thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đây là các dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

Hậu quả của tội lừa dối khách hàng  đó là những thiệt hại gây ra cho trật tự quản lý kinh tế, mà cụ thể là thiệt hại đến quyền lợi của người tiêu dùng, đến uy tín của các cá nhân kinh doanh hoặc các doanh nghiệp.

Những biểu hiện cụ thể hậu quả của tội phạm rất đa dạng. Nó có thể là làm cho khách hàng bị thiệt hại về những lợi ích vật chất, tiền bạc, tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người, những thiệt hại về tài sản cho xã hội và những thiệt hại khác về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội... Hậu quả trực tiếp của hành vi lừa dối khách hàng là gây thiệt hại vật chất cho khách hàng, làm cho khách hàng mất di một phần số lượng hàng hoá hoặc hàng hoá không bảo đảm chất lượng.

Đối với tội lừa dối khách hàng, hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Nếu chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì người phạm tội phải là người người đã bị xử phạt hành chính về hành vi lừa dối khách hàng hoặc đã bị kết án về tội lừa dối khách hàng, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm mới bị coi là phạm tội lừa dối khách hàng.

Mặt chủ quan

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có tính chất chiếm đoạt do người phạm tội cố ý thực hiện hành vi phạm tội với mục đích là mong muốn chiếm đoạt được tài sản thuộc sở hữu của người bị hại, đây là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Nếu sau khi đã có tài sản một cách hợp pháp rồi mới có ý định chiếm đoạt thì không phải là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy trường hợp cụ thể người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội tương ứng như: tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Thông thường, trước khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội bị rơi vào hoàn cảnh nợ nần do thua cơ, bạc, lô đề, kinh doanh không có khả năng chi trả nợ nên có động cơ chiếm đoạt tài sản cho nên để chứng minh ý thức chiếm đoạt tài sản của người phạm tội cơ quan có thẩm quyền thường căn cứ vào tài sản thực có, tình trạng tài chính, nhu cầu tài sản của người phạm tội...

 

Người thực hiện hành vi lừa dối khách hàng là do cố ý (cố ý trực tiếp), tức là nhận thức rõ hành vi của mình là hành vi lừa dối khách hàng, thấy trước được hậu quả của hành vi của mình gây ra và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra.

Mục đích của người phạm tội là thu lợi bất chính từ hoạt động lừa dối khách hàng. Biểu hiện của mục đích thu lợi là người phạm tội dùng những thủ đoạn gian dối để thực hiện hành vi nhằm tránh sự phát hiện của khách hàng.

Chủ thể Chủ thể của tội phạm là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Chủ thể của tội này là những người làm nghề mua bán hàng có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi theo quy định
Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự Chiếm đoạt từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng mà gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm. Không quy định định lượng giá trị tài sản chiếm đoạt được bằng thủ đoạn gian dối trong mua, bán.
Hình phạt Hình phạt thấp nhất là phạt cải tạo không giam giữ 3 năm, phạt tù 6 tháng, hình phạt cao nhất tội này là tù chung thân. Hình phạt thấp nhất tội này là phạt tiền, hình phạt cao nhất là 5 năm tù giam.

Như vậy, từ các điều mục trong bài viết cho thấy, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tính chất và mức độ nguy hiểm hơn so với tội lừa dối khách hàng và từ những phân tích trên có thể thấy hai tội này khác nhau cơ bản ở hành vi thực hiện tội phạm, hậu quả của hành vi nên căn cứ vào đó, chúng ta có thể phân biệt được hai tội danh này. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có khung hình phạt nặng hơn rất nhiều, với hình phạt cao nhất là tù chung thân, trong khi Tội lừa dối khách hàng chỉ có hình phạt cao nhất là 5 năm tù. Điều này một lần nữa khẳng định mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu cao hơn so với hành vi gian lận trong kinh doanh.

2. Ví dụ thực tiễn

Tình huống: Một người tên là A chuyên kinh doanh bất động sản.

Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản: A biết rõ một khu đất ven biển đang có tranh chấp pháp lý và chưa được cấp phép xây dựng. A đã làm giả các giấy tờ, bản vẽ dự án và quảng cáo rầm rộ về một "khu nghỉ dưỡng cao cấp" mang tên "Dự án Thiên Đường Biển". Bằng các thủ đoạn gian dối , A mời gọi B và nhiều khách hàng khác đầu tư, cam kết sẽ được sở hữu căn biệt thự với giá ưu đãi sau một năm. B đã tin tưởng và chuyển cho A số tiền 2 tỷ đồng. Sau khi nhận tiền, A cắt đứt liên lạc và bỏ trốn. Trong trường hợp này, A đã tạo ra một "dự án ma" , một thực tế không hề tồn tại. Mục đích của A là chiếm đoạt toàn bộ số tiền của B, không phải là thu lợi từ một giao dịch kinh doanh hợp pháp.  

Hành vi lừa dối khách hàng: A sở hữu một căn hộ đã được xây dựng và có đầy đủ giấy tờ hợp pháp. A rao bán căn hộ đó cho B với giá 2 tỷ đồng. Trong quá trình giao dịch, A đã cam kết rằng căn hộ rộng 100m² và có tầm nhìn đẹp ra công viên. Tuy nhiên, trên thực tế, diện tích sử dụng chỉ là 85m² và một phần tầm nhìn bị che khuất bởi tòa nhà khác. A đã dùng thủ đoạn gian dối để B tin rằng căn hộ có diện tích và chất lượng tốt hơn . B vẫn nhận được tài sản là căn hộ, nhưng giá trị thực tế của nó không tương xứng với số tiền B đã bỏ ra. A thu lợi bất chính từ khoản chênh lệch giá do hành vi gian dối này gây ra, chứ không phải chiếm đoạt toàn bộ số tiền 2 tỷ đồng của B.  

3. Kết luận

Phân tích chuyên sâu đã cho thấy Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Tội lừa dối khách hàng là hai tội danh có bản chất hoàn toàn khác nhau. Tội lừa đảo là tội phạm xâm phạm quyền sở hữu, với mục đích chiếm đoạt toàn bộ tài sản bằng cách tạo ra một kịch bản giả. Ngược lại, Tội lừa dối khách hàng là tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, với mục đích thu lợi bất chính thông qua hành vi gian lận trong một giao dịch có thật. Sự khác biệt này không chỉ thể hiện qua các yếu tố cấu thành mà còn được phản ánh rõ nét trong khung hình phạt và cách thức xử lý của pháp luật. Việc phân biệt rõ ràng hai tội danh này là nền tảng để áp dụng pháp luật một cách chính xác, đảm bảo công lý được thực thi một cách nghiêm minh, bảo vệ cá nhân, doanh nghiệp và toàn xã hội trước các hành vi gian lận ngày càng tinh vi.

Mọi thắc mắc quý khách hàng có thể liên hệ trực tiếp Tổng đài tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến số Hotline1900.6162 để gặp luật sư tư vấn trực tiếp giải đáp các thắc mắc. Chúng tôi rất hân hạnh khi nhận được sự hợp tác của quý khách hàng. Xin chân thành cảm ơn!