Thưa luật sư, tôi có một vấn đề cần được tư vấn xin các luật sư tư vấn giúp. Em gái tôi vừa thi tuyển công chức cách đây không lâu. Hiện nay em gái tôi vẫn chưa nhận được giấy quyết định tuyển dụng, chúng tôi có hỏi thì được biết chứng chỉ tiếng anh của em gái tôi có vấn đề không thể xác nhận và đang nghi ngờ là có sử dụng bằng giả. Em tôi có học 1 trung tâm tiếng anh nhưng không lâu sau thì giải thể nên không thể xác nhận được. Em tôi đã đi học ngay 1 bằng tiếng anh khác nhưng chưa thể bổ sung vào hồ sơ được vì hồ sơ của em tôi hiện giờ đang đưa lên bộ nội vụ. Xin luật sư có thể tư vấn giúp tôi những vấn đề sau: nếu không xác nhận được trung tâm đó liệu em tôi có bị quy vào tội sử dụng bằng giả hay không. Liệu em tôi có được cung cấp chứng chỉ tiếng anh khác vào hồ sơ hay không. Vì em tôi đang đợi quyết định tuyển dụng nếu bị quy vào tội sử dụng bằng giả thì sẽ bị xử lí như thế nào. Tôi rất mong nhận được hồi âm sớm của các luật sư ?
Tôi xin chân thành cảm ơn quý công ty và các luật sư!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sựcủa Công ty luật Minh Khuê

>>Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi:  1900.6162

Trả lời:

Cơ sở pháp lý

Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017

Luật sư tư vấn

Chào bạn, về vấn đề của bạn, chúng tôi xin trả lời như sau.

Theo như thông tin mà bạn cung cấp, cơ sở cấp chứng chỉ đào tạo tiếng anh cho em bạn hiện đã ngừng hoạt động. Cơ quan nhà nước nơi em bạn đăng kí thi tuyển sẽ có trách nhiệm  xác minh tính chính xác của chứng chỉ tiếng anh đó. Về việc thẩm tra, xác minh này, cơ quan đấy chỉ cần xác minh xem cơ sở đó có thẩm quyền trong việc đào tạo và cấp chứng chỉ tiếng Anh hay không căn cứ vào đăng ký ngành nghề kinh doanh của cơ sơ đó. Trong trường hợp nếu như họ không xác minh được thì có thể họ sẽ yêu cầu em bạn phải nộp lại một chứng chỉ tiếng Anh khác để đáp ứng với yêu cầu nơi em bạn đăng kí thi tuyển.

1. Xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng bằng giả

Căn cứ theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 04/2021/NĐ-CP thì hành vi sử dụng bằng giả sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính như sau:

"Điều 23. Vi phạm quy định về sử dụng và công khai thông tin cấp văn bằng, chứng chỉ thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Sử dụng văn bằng, chứng chỉ của người khác;

b) Cho người khác sử dụng văn bằng, chứng chỉ của mình;

c) Sử dụng văn bằng, chứng chỉ bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Công khai không đầy đủ thông tin về việc cấp văn bằng, chứng chỉ trên trang thông tin điện tử của đơn vị;

b) Công khai không chính xác thông tin về việc cấp văn bằng, chứng chỉ trên trang thông tin điện tử của đơn vị.

3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi không công khai thông tin về việc cấp văn bằng, chứng chỉ trên trang thông tin điện tử của đơn vị.

4. Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật là văn bằng, chứng chỉ bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc thực hiện công khai theo quy định đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 và khoản 3 Điều này.

b) Buộc cải chính thông tin đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều này".

Như vậy hành vi xử dụng bằng giải sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng tùy từng mức độ vi phạm. Ngoài ra, còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu văn bằng, chứng chỉ. Và phải áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là cải chính thông tin...

2. Truy cứu trách nhiệm hình sự

Hành vi sử dụng bằng giả được xem là có hành vi “sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ giả” là một điều cấm. Nhưng để xác định người sử dụng có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không thì phải xem xét mục đích của hành vi, nếu mục đích đó "nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân” thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017. Nếu em của bạn sử dụng bằng giả nhằm mục đích lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân thì còn phải chịu hình phạt quy định tại Điều 341. Cụ thể được quy định như sau:

"Điều 341. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác;

d) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;

đ) Thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên;

b) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

c) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng".

2.1 Về khách thể của tội phạm 

Đối tượng của tội làm giả giấy tờ tài liệu của cơ quan tổ chức là các loại con dấu giải, giấy tờ giả, tài liệu giả trong đó có các loại văn bằng chứng chỉ giả. Còn đối tượng bị xâm phạm là hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nức, cụ thể là con dấu, tài liệu và các giấy tờ khác. 

Con dấu tài liệu là một đặc trưng của cơ quan tổ chức, và con dấu tài liệu được dùng để khẳng định giá trị pháp lý đối với các giấy tờ tài liệu được sử dụng trong các cơ quan nhà nước. Do vậy việc làm giả con dấu, giấy tờ, tài liệu giả chính là xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính của Nhà nước về con dấu và các loại tài liệu, giấy tờ này.

2.2 Về mặt khách quan của tội phạm 

- Về hành vi:

+ Hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ của cơ quan, tổ chức: Về bản chất thì không có thật thì sẽ không có giả, do vậy con dấu, giấy tờ, tài liệu bị làm giả phải là con dấu, giấy tờ, tài liệu có thật của cơ quan, tổ chức, và cơ quan, tổ chức đó cũng phải là cơ quan, tổ chức có thật. Nếu làm con dấu, giấy tờ giả của một cơ quan tổ chức không hề có thật thì đây sẽ coi là hành vi lừa đảo chứ không phải làm giả con dấu, giấy tờ, tài liệu.

+ Hành vi sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ giả nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân. Nếu người phạm tội mà chỉ làm giả tài liệu, con dấu của cơ quan, tổ chức mà việc làm giả này không phải vi mục đích lừa dối người khác thì cũng không thể coi là phạm tội làm giả con dấu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức được. Con dấu, giấy tờ tài liệu giả có thể được sử dụng vào nhiều mục đích, chẳng hạn như dùng bằng đại học giả để đi xin việc, để được hưởng mức lương cao hơn; dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để mua bán đất; sử dụng sổ hộ khẩu giả để được giao đất trồng lúa, đất trồng rừng, mua xe ô tô trong thành phố,…

Khi xác định về hành vi, nếu người đó chỉ làm giả con dấu thì sẽ xác định là làm “giả con dấu của cơ quan, tổ chức”, nếu người đó làm giả giấy tờ, tài liệu thì sẽ là “làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” chứ không định tội danh đầy đủ như điều luật quy định.

- Về hậu quả khi thực hiện hành vi: Hậu quả không phải là yếu tố bắt buộc để cấu thành tội này. Chỉ cần người nào có hành vi làm giả con dấu, giấy tờ tài liệu của cơ quan, tổ chức và sử dụng con dấu, giấy tờ tài liệu đó để lừa dối người khác nhằm đạt được mục đích bất hợp pháp của mình thì đều có thể bị truy cứu về tội này. Nếu việc phạm tội gây hậu quả thực tế thì đây sẽ được coi là tình tiết định khung hình phạt.

2.3 Về chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này người đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự mà thực hiện hành vi phạm tội thì đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này. Nếu như trong trường hopwk người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn mà có hành vi làm giả con dấu, tài liệu như là hành vi lén lút đưa con dấu, giấy tờ của tổ chức mình cho người khác hoặc sử dụng con dấu tài liệu và giấy tờ tài liệu giải để nhằm thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật hoặc lừa giối cơ quan nhà nước. Theo quy định của pháp luật thù người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự với tội làm giả con dấu, giấy tờ của cơ quan tổ chức là người tử đủ 16 tuổi trở lên.

2.4 Về mặt chủ quan của tội phạm 

Tội làm giả con dấu, giấy tờ, tài liệu của cơ quan tổ chức được thực hiện dưới lỗi cố ý, người phạm tội biết rõ con dấu, giấy tờ, tài liệu này là giả nhưng vẫn sử dụng chúng để thực hiện hành vi lừa dối người khác để trục lợi.

Động cơ của việc phạm tội cũng không phải là yếu tố bắt buộc, tuy nhiên việc xác định động cơ cũng là điều hết sức quan trọng do nếu người phạm tội thực hiện việc làm giả con dấu, giấy tờ vì lợi ích vật chất hoặc vì động cơ đê hèn khác thì sẽ khác với người làm giả con dấu, giấy tờ giả vì mục đích thành tích, chẳng hạn như là làm giả giấy khen để khoe khoang thì sẽ khác làm giả giấy khen để được ưu tiên khi đi xin học bổng, xin đi du học nước ngoài…

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về Sử dụng bằng giả thi tuyển công chức, bị xử lý như thế nào?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số:1900.6162  để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê