- I. So sánh nghề thẩm phán ở Anh và Mỹ
- 1. Sự giống nhau
- 2. Sự kác nhau
- Về cách tuyển chọn
- Về thẩm quyền bổ nhiệm
- Về điều kiện chuyên môn
- II. Quy định về thẩm phán và nghề thẩm phán ở Việt Nam
- 1. Điều kiện trở thành thẩm phán
- 2. Nhiệm vụ, quyền hạn của thẩm phán
- III. Chế định thẩm phán của Cộng hòa Liên Bang Đức
- 1. Đào tạo Thẩm phán ở Cộng hòa Liên Bang Đức
- Cơ sở đào tạo
- Chương trình đào tạo
- Kỳ thi sát hạch Tư pháp quốc gia thứ hai
- 2. Bổ nhiệm Thẩm phán
- Bổ nhiệm Thẩm phán ở các Tòa án Hiến pháp
- Bổ nhiệm Thẩm phán ở các Tòa án khác
- 3. Kỷ luật, bãi nhiệm Thẩm phán
Khách hàng: Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi về sự giống và khác nhau của nghề thẩm phán ở Anh và Mỹ ạ? Hiện nay, ở Việt Nam, nghề thẩm phán được quy định như thế nào? và Luật sư hãy phân tích một chế định thẩm phán cụ thể trên thế giới xem quốc gia đó quy định như thế nào?
Xin cảm ơn!
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụcTư vấn luật dân sựcủa Công ty Luật Minh Khuê.
Luật sư tư vấn luật dân sự gọi:1900.6162
Trả lời:
Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
Dựa trên câu hỏi của bạn, chúng tôi xin phân tích như sau:
I. So sánh nghề thẩm phán ở Anh và Mỹ
1. Sự giống nhau
Để làm thẩm phán ở Anh và ở Mĩ thì trước hết Thẩm phán đều phải đảm bảo những yêu cầu sau:
- Có phẩm chất đạo đức tốt, cởi mở, công bằng, không thiên vị, lịch thiệp, điềm tĩnh, có uy tín.
- Có yêu cầu chung đều phải tốt nghiệp đại học ngành luật.
- Có năng lực, trình độ chuyên môn.
- Có sức khỏe tốt
2. Sự kác nhau
Về cách tuyển chọn
+ Ở Mĩ: áp dụng mô hình tuyển chọn thẩm phán theo dạng tranh cử, vận động ủng hộ. Mô hình này thường được sử dụng dựa trên chuyên môn kinh nghiệm và năng lực vận động thuyết phục của ứng viên. Theo đó ứng cử viên phải đảm bảo những phẩm chất vượt trội của một thẩm phán tiềm năng. Cụ thể về năng lực chuyên môn, thẩm phán thường là những luật sư giỏi có năng lực vượt trội về chuyên môn điều này được thể hiện qua uy tín và danh tiếng trong sự nghiệp của họ. Bên cạnh đó thẩm phán phải có thành tích trong lĩnh vực chính trị.
+ Ở Anh: Thẩm phán tại Anh được ủy ban tư pháp lựa chọn và bổ nhiệm. Ủy ban này hoạt động một cách độc lập không chịu sự ảnh hưởng của bất kì một tổ chức nào. Ủy ban này tổ chức một kì thi công khai, minh bạch và công bằng để lựa chọn được ứng cử viên xuất sắc nhất. Những ứng cử viên đảm bảo được các yếu tố về đóng góp uy tín, sự tín nhiệm, kinh nghiệm và đạo đức nghề nghiệp sẽ được ủy ban Tư pháp đề xuất lên quan chưởng ấn- người đứng đầu nhánh tư pháp tại Anh xem xét bổ nhiệm.
Về thẩm quyền bổ nhiệm
+ Ở Mĩ: Thẩm phán liên bang do tổng thống bổ nhiệm và được thượng viện bỏ phiếu phê chuẩn.
+ Ở Anh: Thẩm phán do Ủy ban tư pháp lựa chọn và bổ nhiệm.
Về điều kiện chuyên môn
+ Ở Mĩ: để được làm thẩm phán ở Mĩ thì phải làm qua công tác luật sư trong 6 năm.
+ Ở Anh: để làm được thẩm phán các ứng viên phải có bằng cấp luật tương ứng và kinh nghiệm phục vụ ít nhất từ 5 năm năm trong ngành.
II. Quy định về thẩm phán và nghề thẩm phán ở Việt Nam
1. Điều kiện trở thành thẩm phán
Xét về mặt pháp lý, Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014 đã đưa ra những tiêu chuẩn chung để trở thành thẩm phán bao gồm:
Là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực.
Có trình độ cử nhân luật trở lên.
Đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử.
Có thời gian làm công tác thực tiễn pháp luật.
Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nghĩa vụ được giao.
2. Nhiệm vụ, quyền hạn của thẩm phán
Cụ thể ở mục này ta tìm hiểu về nhiệm vụ, quyền hạn của thẩm phán trong tố tụng hình sự.
Theo quy định tại Điều 45 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 như sau:
“Thẩm phán được phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa;
b) Tiến hành xét xử vụ án;
c) Tiến hành hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử;
d) Tiến hành hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự phân công của Chánh án Tòa án.
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có những nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này và những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trừ biện pháp tạm giam;
b) Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
c) Quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án;
d) Điều hành việc xét xử vụ án, tranh tụng tại phiên tòa;
đ) Quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc giám định lại, thực nghiệm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám định; yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá tài sản;
e) Yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội; yêu cầu cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật;
g) Quyết định triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa;
h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự phân công của Chánh án Tòa án theo quy định của Bộ luật này.
Thẩm phán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình”.
=> Ta có thể đưa ra một số nhận xét sau đây:
- Thẩm phán là một chức danh tố tụng, là người thực hiện hoạt động xét xử ở Toà án. Đó là nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán được phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự; nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên toà; nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao. Đây là nội dung mới của điều luật.
- Khi được phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự Thẩm phán có những nhiệm vụ và quyền hạn sau: nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên toà; tham gia xét xử các vụ án hình sự; tiến hành các hoạt động và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử; tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Toà án theo sự phân công của Chánh án Toà án.
- Khi được phân công chủ toạ phiên toà, ngoài những nhiệm vụ và quyền hạn nói ở trên Thẩm phán chủ tọa phiên toà còn có những nhiệm vụ và quyền hạn sau: quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật này; quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; quyết định triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên toà; tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Toà án theo sự phân công của Chánh án Toà án.
- Bộ luật tố tụng hình sự quy định Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Toà án nhân dân tối cao có quyền cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa.
- Những quyết định, yêu cầu của Thẩm phán phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân chấp hành nghiêm chỉnh. Thẩm phán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình.
III. Chế định thẩm phán của Cộng hòa Liên Bang Đức
1. Đào tạo Thẩm phán ở Cộng hòa Liên Bang Đức
Cơ sở đào tạo
Cộng hòa Liên Bang Đức không thành lập các cơ sở đào tạo tập trung dưới hình thức các học viện hay trường đào tạo để đào tạo Thẩm phán, Công tố viên hay Luật sư tranh tụng. Thay vào đó, để trở thành Thẩm phán, Công tố viên hay Luật sư tranh tụng, những ứng viên đã vượt qua kỳ sát hạch Tư pháp quốc gia thứ nhất (tức là tốt nghiệp đại học Luật) phải đăng ký tham gia khoá đào tạo chuyên môn trong 2 năm rưỡi. Những khoá đào tạo như vậy được tổ chức tại từng bang. Trước đây, Tòa án tối cao liên bang chịu trách nhiệm tổ chức những khoá đào tạo như vậy nhưng hiện nay chức năng này đã được chuyển giao cho Bộ Tư pháp.
Chương trình đào tạo
Đức có một hệ thống chương trình và nội dung đào tạo tư pháp khá thống nhất. Chương trình đào tạo được xây dựng tập trung vào các kỹ năng thực tế. Các giảng viên tham gia vào các khoá đào tạo là những cán bộ đương chức (Thẩm phán, Công tố viên, Luật sư tranh tụng, Công chứng viên hay các cán bộ nhà nước cao cấp từ các cơ quan tư pháp và hành chính). Chương trình đào tạo được chia thành các giai đoạn khác nhau gồm có các giai đoạn bắt buộc và một giai đoạn không bắt buộc.
Các giai đoạn bắt buộc
Giai đoạn thực tập tại cơ quan tư pháp: Giai đoạn này bao gồm 6 tháng thực tập tại một Tòa dân sự và 3 tháng thực tập tại một Tòa hình sự hoặc một văn phòng Công tố. Trong giai đoạn thực tập này, tất cả các ứng viên phải làm quen với quy trình thủ tục dân sự hoặc hình sự tại Tòa án như điều tra, chuẩn bị và điều hành một phiên Tòa (dân sự hoặc hình sự) và soạn thảo bản án hoặc quyết định.
Giai đoạn thực tập tại cơ quan hành chính: Giai đoạn này bao gồm 5 tháng thực tập tại một cơ quan hành chính cấp quận hoặc cấp tương ứng nơi có ít nhất một cán bộ công chức nhà nước đã được cấp chứng chỉ Thẩm phán đang làm việc và 2 tháng thực tập tại một cơ quan chính quyền bang hoặc thành phố hoặc tại một Tòa hành chính hoặc văn phòng Công tố. Giai đoạn này giúp ứng viên làm quen với các công việc chuyên môn tại các cơ quan hành chính, đặc biệt là các thủ tục hành chính, soạn thảo các quyết định, các đạo luật hành chính, các thủ tục hành chính như điền đơn khiếu nại cho đến giải quyết các đơn khiếu nại bằng các phán quyết hay quyết định hành chính.
Giai đoạn thực tập tại Văn phòng luật sư: Thời gian thực tập tại văn phòng luật sư kéo dài 4 tháng. Thời gian thực tập này không những giúp các ứng viên nâng cao kỹ năng soạn thảo công văn (trao đổi với khách hàng hoặc bên có tranh chấp với khách hàng, hoặc với cơ quan tư pháp, Tòa án) mà còn nâng cao kỹ năng chuyên môn để đại diện cho khách hàng tiến hành các thủ tục tố tụng tại Tòa án.
Giai đoạn không bắt buộc
Giai đoạn không bắt buộc kéo dài trong thời gian 4 tháng. Trong thời gian này, ứng viên có thể xin thực tập tại một hay hai cơ quan luật pháp thuộc các lĩnh vực được quy định như trên gồm có tư pháp (Tòa án, nhà tù, Văn phòng Công chứng, Văn phòng luật sư), hành chính, kinh tế, lao động và luật xã hội, luật quốc tế và luật Châu Âu, luật thuế quan.
Khi chương trình đào tạo bắt đầu, học viên phải tham gia đầy đủ các khoá đào tạo tư pháp và hành chính. Những khoá đào tạo như vậy cũng được tổ chức trong các giai đoạn bắt buộc. Chương trình đào tạo thường đi kèm với các chương trình kỹ năng thực tế. Khác với các chương trình đào tạo lý thuyết tại các trường đại học, trong chương trình đào tạo này, giảng viên tập trung vào các tình huống được xây dựng từ những kinh nghiệm thực tế của mình và từ hồ sơ các vụ việc trên thực tế.
Sau khi hoàn thành các khoá đào tạo hay các giai đoạn đào tạo học viên sẽ được giảng viên hoặc người hướng dẫn nhận xét và cho điểm cho khoá đào tạo hoặc giai đoạn đào tạo đó. Điểm được cho dựa trên điểm kiểm tra thường kỳ của các học viên và đánh giá chung về việc học viên tham gia vào các phần thảo luận do giảng viên đưa ra. Những điểm số này được đưa vào điểm thi nói trong kỳ thi sát hạch tư pháp quốc gia.
Kỳ thi sát hạch Tư pháp quốc gia thứ hai
Chương trình đào tạo sẽ kết thúc sau khi các học viên hoàn thành kỳ thi sát hạch Tư pháp quốc gia lần thứ hai. Kỳ thi này do một đơn vị chuyên trách về các kỳ sát hạch tư pháp là Vụ Sát hạch tư pháp thuộc Bộ Tư pháp tổ chức thực hiện.
Kỳ thi gồm hai phần: kiểm tra nói và thi viết. Trong phần thi viết, các thí sinh phải thực hiện 11 bài luận trong thời gian 11 ngày liên tiếp. Thí sinh phải thực hiện các bài luận bắt buộc về Luật dân sự (trong đó có Luật thương mại và Công luật), Luật lao động, luật tố tụng, 2 bài luận về Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự, 4 bài luận chủ yếu về luật cơ bản gồm có luật nội dung, luật tố tụng và Luật thuế quan.
Mỗi thí sinh phải thực hiện bài kiểm tra nói trước hội đồng 4 Thẩm phán. Những câu hỏi trong phần thi này đều thuộc các lĩnh vực đã được giới hạn trước khi kỳ thi diễn ra. Mỗi thí sinh được hội đồng kiểm tra trong thời gian 50 phút và được nhận 4 loại điểm tương ứng với các lĩnh vực Luật dân sự, Luật lao động, Luật hình sự, Công luật và một số lĩnh vực luật tuỳ chọn.
Tổng điểm của kỳ thi được tính là điểm số trung bình của phần thi nói và phần thi viết. Thí sinh được cấp giấy chứng nhận đã qua kỳ sát hạch nếu đạt điểm số trên. Những thí sinh không đạt chỉ được phép thi lại một lần nữa.
2. Bổ nhiệm Thẩm phán
Bổ nhiệm Thẩm phán ở các Tòa án Hiến pháp
- Ứng cử viên Thẩm phán Tòa án Hiến pháp liên bang được đề cử từ nhiều cơ quan khác nhau: Bộ Tư pháp liên bang, các nhóm trong Hạ nghị viện, Chính phủ bang. Trong số 16 Thẩm phán Tòa án Hiến pháp liên bang thì 8 người do Thượng nghị viện bầu trực tiếp, 8 người do Ủy ban tuyển chọn Thẩm phán Tòa án Hiến pháp liên bang của Hạ nghị viện tuyển chọn (Ủy ban này được bầu theo tỉ lệ đại diện các đảng phái chính trị trong Hạ nghị viện). Sau khi được lựa chọn, danh sách Thẩm phán sẽ được đưa lên Tổng thống bổ nhiệm với nhiệm kỳ 12 năm và không được tái nhiệm.
- Thẩm phán Tòa án Hiến pháp bang do Nghị viện của bang bầu ra và có nhiệm kỳ cùng với nhiệm kỳ của Nghị viện.
Bổ nhiệm Thẩm phán ở các Tòa án khác
- Những người đã vượt qua kỳ thi tư pháp quốc gia lần thứ hai phải nộp đơn lên Bộ Tư pháp bang đề nghị được làm Thẩm phán. Nếu được chấp nhận, họ sẽ được bổ nhiệm làm “Thẩm phán thử việc”, thời gian thử việc là 5 năm kể từ ngày bổ nhiệm; nếu họ đã là công chức, thời gian thử việc là 2 năm.
Sau khi kết thúc thời gian thử việc, Thẩm phán thử việc có thể được bổ nhiệm làm Thẩm phán chính thức. Việc bổ nhiệm Thẩm phán ở các bang rất khác nhau. Nhìn chung, Bộ trưởng Bộ Tư pháp bang có vai trò quyết định trong việc bổ nhiệm Thẩm phán của Tòa án thẩm quyền chung, Tòa án hành chính và Tòa án tài chính; Bộ trưởng Bộ Lao động bang có vai trò quyết định trong việc bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án lao động, Tòa án xã hội.
- Thẩm phán các Tòa án liên bang do Tổng thống bổ nhiệm theo đề cử của Bộ trưởng Bộ Tư pháp liên bang hoặc Bộ trưởng Bộ Lao động liên bang và Ủy ban tuyển chọn Thẩm phán liên bang.
- Các Thẩm phán đều được bổ nhiệm đến tuổi nghỉ hưu (65 tuổi).
3. Kỷ luật, bãi nhiệm Thẩm phán
Hiến pháp Cộng hoà Liên bang Đức quy định như sau: Điều 97 (khoản 2): “Các Thẩm phán được bổ nhiệm vĩnh viễn cho vị trí toàn thời gian để chỉ có thể bị sa thải vĩnh viễn hoặc tạm thời, luân chuyển hoặc nghỉ hưu trước khi hết hạn nhiệm kỳ theo quyết định của cơ quan tư pháp và chỉ do những lý do và cách thức được luật định. Cơ quan lập pháp có thể thiết lập giới hạn tuổi nghỉ hưu của các Thẩm phán được bổ nhiệm suốt đời. Trong trường hợp có sự thay đổi trong cơ cấu của Toà án hoặc ở các khu vực, các Thẩm phán có thể được luân chuyển tới Toà án khác hoặc bị bãi miễn, miễn là nguyên tiền lương đầy đủ của họ”.
Điều 98 (khoản 2): “Nếu một Thẩm phán liên bang vi phạm nguyên tắc của Hiến pháp liên bang hoặc trật tự Hiến pháp của bang bằng nghề nghiệp chính thức của mình hoặc một cách không chính thức, Toà án Hiến pháp liên bang, theo đề nghị của 2/3 thành viên Thượng viện yêu cầu Thẩm phán phải bị luân chuyển hoặc nghỉ hưu. Trong trường hợp vi phạm do cố ý, Toà án có thể ra lệnh miễn nhiệm Thẩm phán”.
Theo quy định của khoản 3 Điều 98 và điểm 27 khoản 1 Điều 74 thì các bang sẽ quy định cụ thể về vấn đề kỷ luật, miễn nhiệm Thẩm phán bang.
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.
Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật dân sự.