1.Vì sao các quốc gia tiến hành hoạt động thương mại với nhau?

 Có hai nguyên nhân chính được đưa ra nhằm giải thích tại sao các quốc gia tiến hành hoạt động thương mại với nhau, đó là:

(a) Nguyên nhân kinh tế; 

(b) Nguyên nhân chính trị.

(c) Nguyên nhân kinh tế Thương mại tự do không phải là ý tưởng mới.

Nó đã xuất hiện trong nhiều học thuyết kinh tế từ thế kỉ XV-XVIII ở châu Âu, như các học thuyết về chủ nghĩa trọng thương, học thuyết về lợi thế tuyệt đối của A-đam Xơ-mít, hay học thuyết về lợi thế so sánh của Đa-vít Ri-các-đô. Theo A-đam Xơ-mít, ... Người thợ may không nên đóng giày cho chính mình, mà nên mua giày của người thợ đóng giày. Người thợ đóng giày cũng không nên tự may quần áo cho mình, mà nên mua quần áo của người thợ may… Điều gì là sự khôn ngoan trong cách ứng xử của từng gia đình, thì cũng nên làm như vậy đối với một vương quốc. Nếu một quốc gia nước ngoài có thể cung cấp cho chúng ta hàng hoá rẻ hơn của chúng ta, thì nên mua các hàng hoá đó… chúng ta sẽ có lợi… Quan điểm của A-đam Xơ-mít về ‘chuyên môn hoá’ và ‘lợi thế tuyệt đối’ trong thương mại quốc tế như đã nêu trên được Đa-vít Ri-các-đô tiếp tục phát triển. Ông đã xây dựng học thuyết về ‘lợi thế so sánh’ trong tác phẩm ‘Những nguyên lí của kinh tế chính trị và thuế khoá’ xuất bản năm 1817. Lợi thế so sánh là khái niệm trung tâm của học thuyết về thương mại quốc tế, cho rằng quốc gia nên tập trung sản xuất và xuất khẩu những hàng hoá mà mình có ưu thế hơn, đồng thời nhập khẩu những hàng hoá mà mình không có ưu thế trong tương quan so sánh với các quốc gia khác. Đây là học thuyết làm nền tảng cho sự phát triển thịnh vượng về kinh tế của mỗi quốc gia thông qua thương mại quốc tế. Học thuyết này đề cao sự chuyên môn hoá sản xuất của quốc gia dựa trên những lợi thế như nguồn nguyên liệu thô dồi dào, đất đai màu mỡ, lao động có tay nghề, tích lũy tư bản… Học thuyết về lợi thế so sánh là lời giải cho câu hỏi vì sao các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển (viết tắt là ‘DCs’) có thể và trên thực tế đều được hưởng lợi từ thương mại quốc tế. Theo học thuyết này, ngay cả những nước nghèo nhất và không có bất cứ lợi thế tuyệt đối nào cũng có thể hưởng lợi từ thương mại quốc tế, nhờ những lợi thế tương đối của mình. Có lẽ cũng không quá lời nếu nói rằng Đa-vít Ri-các-đô chính là vị ‘kiến trúc sư’ của WTO ngày nay. Các nhà kinh tế học của thế kỉ XIX-XX sau đó đã nỗ lực hoàn thiện các mô hình của Đa-vít Ri-các-đô và cho ra đời các mô hình như Heckscher-Ohlin, Pôn Sa-mu-en-xơn, Giô-dép Xti-gơ-lít… Các nhà kinh tế học qua các thời đại đều hiểu rõ rằng, người dân của một nước sẽ được hưởng lợi từ việc nhập khẩu với khối lượng càng lớn càng tốt để đổi lấy những gì họ đã xuất khẩu, hoặc tương tự, họ sẽ phải xuất khẩu càng ít càng tốt để chi cho nhập khẩu với khối lượng nhỏ. Việc mở cửa cho thương mại và đầu tư sẽ thúc đẩy tăng trưởng theo nhiều cách, đó là: Khuyến khích nền kinh tế phát triển theo hướng chuyên môn hoá sản xuất những sản phẩm họ có lợi thế so sánh so với các nền kinh tế khác; Mở rộng thị trường đến những nơi mà các nhà sản xuất nội địa có thể tiếp cận; Phổ biến các công nghệ và ý tưởng mới, làm tăng năng lực sản xuất của người lao động và các nhà quản lí nội địa; Việc loại bỏ thuế nhập khẩu sẽ giúp người tiêu dùng tiếp cận sản phẩm giá rẻ hơn, làm tăng sức mua và mức sống của người tiêu dùng, đồng thời giúp các nhà sản xuất tiếp cận sản phẩm đầu vào giá rẻ hơn, làm giảm chi phí sản xuất và tăng khả năng cạnh tranh. Ở không ít nước, tự do hoá thương mại và tốc độ tăng trưởng nhanh được đánh giá là góp phần quan trọng vào việc giảm nghèo, ví dụ, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam.(b) Nguyên nhân chính trị Có câu nói: ‘Nếu không phải là hàng hoá vượt qua biên giới thì sẽ là binh lính’. Trong thực tế, bảo hộ thương mại thường là nguồn gốc của xung đột. Năm 1947, các đại điện đến từ 23 nước đã họp tại Giơ-ne-vơ (Thụy Sĩ) để đàm phán về GATT, nhằm giảm thuế nhập khẩu theo nguyên tắc không phân biệt đối xử và tôn trọng pháp luật, bởi vì tất cả các nước đều hiểu rõ rằng chính sách bảo hộ ‘lợi mình hại người’ (hay có thể được dịch là ‘nghèo hoá nước láng giềng’) (‘beggar-thy-neighbour’) của những năm 30 thực sự là thảm họa kinh tế của nhân loại, thậm chí có thể nói đó là một trong những nguyên nhân dẫn tới cuộc Chiến tranh thế giới thứ II. Vì vậy, thương mại quốc tế đã trở thành một trong những chính sách ngoại giao quan trọng của hầu hết các quốc gia ngày nay. Triết lí của vấn đề là: nếu các nước có quan hệ thương mại với nhau, thì nguy cơ chiến tranh và xung đột vũ trang giữa họ sẽ giảm. Đối với rất nhiều nước DCs, sức mạnh kinh tế là nhân tố quyết định sự tồn tại và vị thế của quốc gia trên trường quốc tế. Họ nhận thức rõ ràng tác động của thương mại quốc tế đối với chính sách thương mại quốc gia. Bên cạnh đó, thương mại quốc tế cũng là công cụ rất quan trọng trong quá trình hội nhập quốc tế của các quốc gia. Theo những người ủng hộ thương mại quốc tế, thương mại tự do giữa các quốc gia được xem như chìa khoá của tăng trưởng kinh tế, hoà bình và cuộc sống tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, triết lí của thương mại tự do cũng vấp phải sự phản đối.

2. Vì sao các quốc gia hạn chế thương mại quốc tế?

Có nhiều nguyên nhân, cả về kinh tế và chính trị, khiến các quốc gia quyết định áp dụng những biện pháp hạn chế thương mại quốc tế. Có những học giả cho rằng: ‘Thương mại tự do không phải là một giải pháp tối ưu về mặt kinh tế. Chủ nghĩa bảo hộ và thực hành thương mại không công bằng được xem là đem lại những lợi ích kinh tế lớn hơn cho một quốc gia’.  Ngay từ thế kỉ XV, các nhà kinh tế học đã tư vấn rằng các quốc gia nên thực hiện các chính sách nhằm thúc đẩy thương mại quốc tế phù hợp với lợi ích của mình và dựa trên lợi thế so sánh, tuy nhiên các chính khách không phải lúc nào cũng đánh giá cao lời khuyên này. Họ có nhiều lí do để theo đuổi chính sách bảo hộ thương mại. Lí do thứ nhất là bảo vệ ‘an ninh quốc gia’ và thực hiện chính sách ‘tự cung tự cấp’. Đây là lập luận của Chính phủ Hoa Kỳ khi bảo hộ ngành công nghiệp thép và các sản phẩm nông nghiệp. Hoa Kỳ cần có một ngành công nghiệp thép nội địa hùng mạnh vì mục đích quốc phòng. Lí do thứ hai là cần bảo hộ ‘ngành kinh tế non trẻ’. Đôi khi các quốc gia cần bảo hộ các ngành sản xuất trong nước và việc làm, trong đó có những ‘ngành kinh tế non trẻ’, trước sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu, dịch vụ của nước ngoài hoặc các nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài. Nếu một ngành kinh tế tiềm năng của quốc gia được bảo hộ khi nó còn ‘non trẻ’, thì nó sẽ có năng lực cạnh tranh bình đẳng trên thị trường thế giới. Lí do thứ ba là chính sách ‘lợi mình hại người’ (‘beggar-thy-neighbour’) (như đã nói ở trên). Thực tế cho thấy, chính sách thương mại quốc tế mang tính dân tộc chủ nghĩa này có thể dẫn tới nhiều khả năng trả đũa lẫn nhau giữa các nước. Bên cạnh đó, các vấn đề như đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, sự an toàn của người tiêu dùng, môi trường, bản sắc văn hoá và các giá trị xã hội khác cũng là lí do của chủ nghĩa bảo hộ thương mại. Chính phủ các nước có thể chịu ảnh hưởng từ áp lực của các nhóm lợi ích khác nhau, hoặc lợi ích quốc gia, và họ có thể quyết định thực hiện chính sách bảo hộ dưới nhiều hình thức đa dạng và tinh vi, nếu điều đó là cần thiết. Các quyết định bảo hộ thương mại, trong khá nhiều trường hợp, là sự lựa chọn chính trị khôn ngoan đối với chính phủ của cả các nước phát triển và các DCs.

3. Sự lựa chọn của các quốc gia là gì?

Câu trả lời phụ thuộc vào từng trường hợp. Các quốc gia nên lựa chọn con đường thương mại quốc tế hay chính sách cô lập? Bảo hộ thương mại hay tự do hoá thương mại? Ngày nay, quyết định của các quốc gia thường nghiêng về thương mại quốc tế, và sự lựa chọn này dựa trên logic về chính trị hơn là logic về kinh tế. Cũng như các điều ước quốc tế khác, cả chính sách đối nội (bị tác động bởi sức ép chính trị) và chính sách đối ngoại (trên cơ sở thoả hiệp) của các quốc gia đều tác động đến quá trình đàm phán và kết quả cuối cùng của một điều ước thương mại quốc tế.

4. Luật thương mại quốc tế có sự tham gia chủ yếu của quốc gia và các thực thể công là gì?

Hiểu đơn giản, đó là pháp luật điều chỉnh thương mại quốc tế có sự tham gia chủ yếu của quốc gia và các thực thể công. Nhưng thương mại quốc tế có sự tham gia chủ yếu của quốc gia và các thực thể công (International Trade) là gì? Ngoài quốc gia và các tổ chức kinh tế quốc tế là các chủ thể chủ yếu, thì ai có thể tham gia vào các quan hệ thương mại quốc tế này? Các quy định về thương mại quốc tế là gì? (a) Thương mại quốc tế có sự tham gia chủ yếu của quốc gia và các thực thể công (International Trade) là gì? Về cơ bản, thương mại quốc tế có sự tham gia chủ yếu của quốc gia và các thực thể công (International Trade) được hiểu là các quan hệ quốc tế ở cấp độ chính sách thương mại, ví dụ, chính sách thuế quan và phi thuế quan, chính sách thương mại tấn công hoặc phòng vệ, chính sách hội nhập kinh tế... của một quốc gia; hoặc sự lựa chọn hội nhập ở cấp độ toàn cầu, khu vực, song phương hoặc đơn phương trong hợp tác thương mại ; hay mối quan hệ giữa việc thực hiện các cam kết thương mại quốc tế và pháp luật quốc gia. Hiện nay, vấn đề đối xử thương mại dành cho các DCs đang là một trong những mối quan tâm của thương mại quốc tế. Như vậy, chính sách thương mại sẽ được thể hiện rất rõ trong các điều ước thương mại quốc tế; và các mục tiêu kinh tế vẫn là trung tâm của bất kỳ điều ước thương mại quốc tế nào. (b) Chủ thể của các quan hệ thương mại quốc tế này là ai? Chủ thể chủ yếu của các quan hệ thương mại quốc tế nêu trên là các quốc gia và các tổ chức kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó, trong ‘sân chơi’ thương mại quốc tế đang xuất hiện những ‘người chơi’ mới. Nói một cách thực tế, thì các nước lớn và các nền kinh tế lớn vẫn đang thống trị thương mại thế giới. Tuy nhiên, thương mại quốc tế cũng rất quan trọng đối với các DCs và các nước chậm phát triển (viết tắt là ‘LDCs’). Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản vẫn giữ vai trò quan trọng nhưng không còn áp đảo. Những ‘cường quốc mới nổi’ như Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil cũng chiếm vị trí ngày càng nổi bật trong quan hệ thương mại quốc tế. Các nước này xuất hiện như những chủ thể chủ đạo trong hoạt động sản xuất hàng chế tạo và cung ứng dịch vụ trên thị trường thế giới, từ đó tạo ra xu hướng mới cho các DCs khác đi theo. Mặc dù chỉ chiếm tỉ trọng không đáng kể trong thương mại toàn cầu, nhưng về tổng thể, các LDCs lại là các nhà sản xuất lớn về hàng nguyên liệu, hàng nhiên liệu, hàng dệt may và thực phẩm. Lưu ý rằng năng lực kinh tế của các nước này không giống nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố ổn định chính trị và chính sách thương mại. Các tổ chức kinh tế quốc tế cũng tham gia mạnh mẽ vào các quan hệ thương mại quốc tế, trong đó phải kể đến WTO, IMF, WB, EU, ASEAN v.v.. Mặc dù WTO không phải là tổ chức quốc tế duy nhất có liên quan, nhưng nó đúng là tổ chức quốc tế lớn nhất và toàn diện nhất, điều chỉnh cả các hiệp định thương mại khu vực và song phương trong phạm vi nhất định. Có thể thấy rõ khả năng phát triển của các liên kết kinh tế khu vực. Chủ nghĩa khu vực ở châu Á sẽ có những tác động mang ý nghĩa toàn cầu, củng cố xu hướng hình thành ba khu vực thương mại với khả năng trở thành các khối liên kết là Bắc Mỹ, châu Âu và Đông Á . Sự hình thành của các khối này sẽ tác động đến khả năng đạt được những hiệp định toàn cầu trong khuôn khổ WTO trong tương lai. Các liên kết kinh tế khu vực cũng là chủ thể quan trọng trong quan hệ thương mại quốc tế, bên cạnh các chủ thể truyền thống là quốc gia. Các chủ thể phi nhà nước, ví dụ, các doanh nghiệp, cũng có ảnh hưởng ngày càng tăng trong các hiệp định thương mại quốc tế vốn là ‘sân chơi’ của các quốc gia. Ví dụ, Việc Hiệp định của WTO về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (viết tắt là ‘TRIPS’) thúc đẩy bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (viết tắt là ‘IPRs’) chặt chẽ hơn, rõ ràng là sự đáp ứng hoạt động lobby của các công ty phương Tây đang sở hữu và phát triển các IPRs, như các công ty dược phẩm, công ty kinh doanh lĩnh vực giải trí, công ty phần mềm. Các vùng lãnh thổ (không có tư cách quốc gia) như Hồng Kông, Ma Cao, hiện nay có vị trí bình đẳng như các chủ thể khác trong quan hệ thương mại quốc tế. Hồng Kông và Ma Cao, cùng với Trung Quốc, đều là các thành viên độc lập của WTO. Sự đa dạng của các chủ thể tham gia ‘sân chơi’ này vừa có thể đem lại tiềm năng, vừa có thể dẫn nguy cơ đổ vỡ của hệ thống thương mại quốc tế. 

Các quy định về thương mại quốc tế là gì?

Luật thương mại quốc tế (International trade rules) quy định ‘luật chơi’ cho ‘cuộc chơi’ thương mại quốc tế. Đó là hàng loạt những quy định đồ sộ có tính ‘quốc tế’, liên quan đến ‘thương mại’ hoặc ‘kinh tế’, và có bản chất ‘pháp luật’. Do các quy định này phản ánh chính sách thương mại, nên chúng có liên quan chặt chẽ với các vấn đề kinh tế hơn bất cứ lĩnh vực pháp luật nào khác. Các quy định về thương mại quốc tế tập trung vào các công cụ điều chỉnh dòng thương mại, bao gồm cả các điều ước quốc tế về thương mại và một phần pháp luật nội địa điều chỉnh thương mại quốc tế. Các hiệp định của WTO là các điều ước toàn cầu gần như đầy đủ nhất về thương mại quốc tế, là một bộ các quy định mang tính ràng buộc, liên quan đến rất nhiều vấn đề thương mại quốc tế. Ngoài các hiệp định của WTO, còn có nhiều điều ước thương mại khu vực và song phương. Các điều ước ở tất cả các cấp độ này tạo thành một hệ thống các quy tắc thương mại đa phương . Các điều ước thương mại khu vực nổi bật nhất là các điều ước liên quan đến EU , NAFTA , MERCOSUR (Thị trường chung Nam Mỹ), và Khu vực thương mại tự do ASEAN  Trong những năm gần đây, số lượng các điều ước thương mại song phương tăng nhanh, đồng thời thể hiện vai trò rất quan trọng của chúng trong chính sách thương mại của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam (xem Chương 4 của Giáo trình để hiểu về các hiệp định song phương giữa Việt Nam với một số đối tác thương mại, như EU, Hoa Kỳ và Trung Quốc). Từ trước đến nay, các điều ước về đầu tư quốc tế thường dưới dạng các hiệp định đầu tư song phương (viết tắt là ‘BITs’). Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, các quy định về đầu tư thường được đưa vào nhiều hiệp định thương mại song phương và khu vực, do đó cả hai vấn đề thương mại và đầu tư đều được điều chỉnh kết hợp trong cùng một hiệp định. Ví dụ, Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ 2000 (viết tắt là ‘BTA’)  và Hiệp định NAFTA . Ở tầm quốc gia, các quốc gia ban hành quy định điều chỉnh sự dịch chuyển qua biên giới của hàng hoá, dịch vụ, sức lao động, tư bản, tiền tệ… đồng thời kí kết các điều ước quốc tế với các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế để tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế. Nếu nhằm mục đích thúc đẩy thương mại quốc tế, thì quốc gia cần phải xây dựng môi trường pháp lí cho phép nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ và sức lao động của mình so với quốc gia khác. Ngược lại, nếu mong muốn bảo hộ các ngành kinh tế trong nước, việc làm và công nghệ, hay ngăn ngừa ‘sự chảy máu’ về vốn, thì quốc gia đó cần phải xây dựng khuôn khổ pháp luật theo hướng ‘phòng vệ’. Vậy, vai trò của các quy định điều chỉnh thương mại quốc tế là gì? Làm thế nào để các quy định này mang lại lợi ích cho các quốc gia trong thương mại quốc tế? Theo Bossche, về cơ bản, có 4 lí do giải thích sự cần thiết của các quy định pháp luật thương mại quốc tế.  Thứ nhất, các quy định pháp luật này sẽ kiềm chế các nước áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại, và giúp các nước tránh leo thang trong việc áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại. Thứ hai, các quy định về thương mại quốc tế sẽ đáp ứng nhu cầu của các thương nhân và nhà đầu tư về sự an toàn và tính có thể dự đoán trong thương mại quốc tế, từ đó khuyến khích thương mại và đầu tư. Thứ ba, nó giúp các quốc gia đối phó được với những thách thức của quá trình toàn cầu hoá, liên quan đến y tế, môi trường, bản sắc văn hoá và các tiêu chuẩn lao động cơ bản… Thứ tư, đó là nhu cầu đạt được một giải pháp công bằng hơn trong quan hệ kinh tế quốc tế.

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)