1. Sửa đổi những tập tục và khuôn mẫu giới có tác động tiêu cực đến phụ nữ

Điều 5 CEDAW yêu cầu các quốc gia thành viên tiến hành các biện pháp để sửa đổi các tập tục, khuôn mẫu về văn hoá, xã hội có tính chất hoặc có thể làm trầm trọng thêm sự phân biệt đối xử với phụ nữ, chẳng hạn như, các phong tục, tập quán mang tính định kiến, dập khuôn về vị thế thấp kém của phụ nữ trong gia đình hoặc ngoài xã hội, chẳng hạn như cho rằng phụ nữ cần phải phục vụ hay tuân phục đàn ông, phụ nữ cần phải được chồng ‘giáo dục’, phụ nữ chỉ thích hợp với các công việc nội trợ và chăm sóc con cái... Điều này cũng đề cập sự cần thiết phải có hoạt động giáo dục về gia đình với nội dung thừa nhận vị trí, vai trò của chức năng làm mẹ của phụ nữ và trách nhiệm chung của vợ và chồng trong việc nuôi dạy con cái và đảm nhiệm các công việc nội trợ. Đây là một yêu cầu rất quan trọng, bởi lẽ nó cho phép giải phóng phụ nữ khỏi vai trò tái sản xuất (nội trợ, nuôi dạy con) có tính truyền thống, từ đó giúp họ có cơ hội tham gia vào các hoạt động xã hội, cũng như tạo tiền đề cho việc sửa đổi phương thức phân công lao động có tính phân biệt đối xử với phụ nữ. Điều 5 được xây dựng xuất phát từ thực tế là sự phân biệt đối xử với phụ nữ không chỉ bắt nguồn từ những chính sách, pháp luật phân biệt đối xử về giới tính mà còn từ những định kiến văn hoá có tính chất tiêu cực về phụ nữ (những “định kiến giới”). Thực tế đó cho thấy việc thừa nhận về mặt pháp lý quyền bình đẳng nam nữ và kể cả tiến hành các biện pháp đặc biệt tạm thời vẫn chưa đủ để loại trừ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ mà cần phải xoá bỏ các khuôn mẫu xã hội mang tính chất bất bình đẳng về giới. Liên quan đến vấn đề này, trong Khuyến nghị chung số 3 thông qua tại kỳ họp thứ 6 năm 1987, Uỷ ban CEDAW đã thúc giục các quốc gia thành viên thực thi các chương trình giáo dục và thông tin đại chúng để giúp xóa bỏ những thành kiến và phong tục, tập quán cản trở việc thực hiện bình đẳng nam nữ.

2. Ngăn chặn mọi hình thức buôn bán và bóc lột tình dục phụ nữ

Điều 6 CEDAW yêu cầu các quốc gia thành viên tiến hành các biện pháp để ngăn chặn mọi hình thức buôn bán phụ nữ và bóc lột phụ nữ mại dâm. Khuyến nghị chung số 19 do U ỷ ban CEDAW thông qua tại kỳ họp lần thứ 11 năm 1992 nêu rằng, các biện pháp như vậy cần bao gồm những hành động nhằm loại trừ nguyên nhân của nạn buôn bán, bóc lột tình dục phụ nữ như tình trạng kém phát triển, đói nghèo, mù chữ, lạm dụng ma tuý, không có việc làm, chiến tranh, xung đột vũ trang và chiếm đóng lãnh thổ... (các đoạn 14, 15, 16). Thêm vào đó, cần quan tâm đến những hoàn cảnh mà phụ nữ đặc biệt có nguy cơ bị buôn bán và bóc lột tình dục như nạn du lịch tình dục, lao động di trú (trong và ngoài nước, hôn nhân với người nước ngoài qua môi giới ( đoạn 14) và cần có các biện pháp cụ thể để bảo vệ phụ nữ trong những hoàn cảnh này, trong đó bao gồm việc tạo cơ hội phục hồi, tái hoà nhập, đào tạo nghề nghiệp, giới thiệu việc làm... cho những phụ nữ là nạn nhân của nạn buôn bán, bóc lột tình dục. Cần lưu ý là, việc đề cập việc ngăn chặn tình trạng bóc lột phụ nữ mại dâm và bảo vệ phụ nữ mại dâm không có nghĩa CEDAW thừa nhận hay khuyến khích hoạt động mại dâm.

3. Quyền tham chính của phụ nữ

Điều 7 CEDAW yêu cầu các quốc gia thành viên phải tiến hành các biện pháp thích hợp để xoá bỏ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trong việc tham gia vào các hoạt động chính trị và xã hội (còn gọi là quyền tham chính), theo đó, các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho phụ nữ các quyền: (i) Bầu cử, ứng cử vào các cơ quan dân cử và giữ chức vụ ở các cơ quan công quyền; (ii) Tham gia xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật và giữ chức vụ trong các cơ quan nhà nước ở mọi cấp; (iii) Tham gia các tổ chức xã hội. Khuyến nghị chung số 23 được Uỷ ban CEDAW thông qua tại phiên họp lần thứ 16 năm 1997 nêu ra những biện pháp mà các quốc gia thành viên cần thực hiện để hỗ trợ và khuyến khích phụ nữ thực hiện quyền tham chính, theo đó:

Những biện pháp để bảo đảm quyền bầu cử, ứng cử của phụ nữ cần nhằm: (a) Bảo đảm tỷ lệ cân bằng giữa phụ nữ và nam giới trong việc nắm giữ các vị trí được bầu cử công khai; (b) Làm cho phụ nữ hiểu tầm quan trọng và cách thức thực hiện quyền bỏ phiếu của họ; (c) Khắc phục những rào cản như thất học, ngôn ngữ, nghèo nàn và những trở ngại cho việc thực hiện quyền tham chính của phụ nữ; (d) Giúp phụ nữ vượt qua những rào cản đó để thực hiện quyền bầu cử và đắc cử của họ ( đoạn 45). Những biện pháp để bảo đảm quyền tham gia xây dựng chính sách, pháp luật và giữ các chức vụ trong chính quyền của phụ nữ cần nhằm bảo đảm: (a) Quyền bình đẳng đại diện của phụ nữ trong quá trình xây dựng chính sách của Chính phủ; (b) Phụ nữ có quyền bình đẳng trên thực tế trong việc nắm giữ chức vụ; (c) Các quá trình tuyển dụng nhằm vào phụ nữ phải công khai và có tính hấp dẫn ( đoạn 46). Những biện pháp để bảo đảm quyền tham gia các tổ chức xã hội của phụ nữ cần nhằm: (a) Bảo đảm ban hành pháp chế có hiệu quả ngăn cấm phân biệt đối xử với phụ nữ; (b) Khuyến khích các tổ chức phi chính phủ, các hội liên hiệp chính trị và cộng đồng chấp thuận các chiến lược, khuyến khích phụ nữ đại diện và tham gia vào công việc của họ ( đoạn 47). Ngoài ra, trong Khuyến nghị chung kể trên, Ủy ban CEDAW cũng khuyến nghị các quốc gia thành viên thực thi các giải pháp đặc biệt tạm thời để nâng tỷ lệ phụ nữ tham gia vào hoạt động chính trị, xã hội, cụ thể như đào tạo, vận động và trợ giúp tài chính cho các ứng cử viên nữ, đề ra các chỉ tiêu về tỷ lệ phụ nữ trong các cấp chính quyền... ( đoạn 15). Ủy ban cũng giải thích rằng khái niệm đời sống chính trị, xã hội nêu ở Điều 7 CEDAW có nội dung rất rộng, bao gồm tất cả các bình diện của nền hành chính công (các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp), ở tất cả các cấp độ quốc tế, khu vực, quốc gia và địa phương. Thêm vào đó, khái niệm này còn bao gồm việc tham gia các hoạt động của xã hội dân sự như các đảng phái chính trị, các hiệp hội chuyên môn, công đoàn, các tổ chức, nhóm dựa trên cộng đồng...(đoạn 5).

4. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong việc tham gia các quan hệ quốc tế

Điều 8 yêu cầu các quốc gia thành viên bảo đảm cho phụ nữ có cơ hội bình đẳng với đàn ông trong việc tham gia các cơ quan đại diện ngoại giao của đất nước và các tổ chức, hội nghị quốc tế. Qua điều này quyền tham chính của phụ nữ đã được mở rộng tới cả ba cấp độ: địa phương, quốc gia và quốc tế. Trong các Khuyến nghị chung số 8 (thông qua tại phiên họp lần thứ 7 năm 1988) và số 23 (thông qua tại phiên họp lần thứ 16 năm 1997), Uỷ ban CEDAW yêu cầu các quốc gia thành viên sử dụng các biện pháp đặc biệt tạm thời để tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các quan hệ quốc tế Quốc tịch có ý nghĩa rất quan trọng vì đó là cơ sở để một cá nhân được hưởng quyền công dân của một quốc gia. Tuy nhiên, tình trạng bất bình đẳng về quốc tịch với phụ nữ vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới, dưới các hình thức như phụ nữ lấy chồng người nước ngoài phải thay đổi quốc tịch theo chồng, hoặc trong trường hợp vợ chồng có hai quốc tịch, con sinh ra phải lấy quốc tịch theo cha... Do vậy, Điều 9 CEDAW yêu cầu các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho phụ nữ được bình đẳng với nam giới trong việc nhập, thay đổi, giữ nguyên quốc tịch, mà không phụ thuộc vào quốc tịch chồng hoặc của cha, đặc biệt trong trường hợp phụ nữ kết hôn với người nước ngoài. Thêm vào đó, điều này cũng yêu cầu bảo đảm cho phụ nữ quyền bình đẳng với chồng trong việc xác định quốc tịch cho con.

5. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong giáo dục

Phụ nữ thường là nạn nhân của tình trạng phân biệt đối xử trong giáo dục, thể hiện ở việc nhiều phụ nữ và trẻ em gái không được học tập hoặc không được theo học những ngành, nghề nhất định hay không được tạo cơ hội học cao lên... Tại nhiều xã hội, các bậc cha mẹ thường cho rằng con gái không cần có học vấn cao và thường ưu tiên các cơ hội học tập cho con trai. Trong khi đó, thực tế khắp nơi trên thế giới đã cho thấy, giáo dục là tiền đề để bảo đảm sự bình đẳng với phụ nữ trên các lĩnh vực khác như lao động, việc làm, hoạt động chính trị và vị thế trong gia đình; đồng thời, tạo cơ sở xoá bỏ những tập tục truyền thống lạc hậu, có tính chất phân biệt đối xử chống lại phụ nữ. Chính vì vậy, Điều 10 yêu cầu các quốc gia thành viên phải áp dụng tất cả các biện pháp thích hợp để xóa bỏ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trong lĩnh vực giáo dục, có thể là trong những khía cạnh như: giáo dục, hướng nghiệp, học nghề, tiếp cận với các hoạt động nghiên cứu và đạt được bằng cấp ở các cơ sở giáo dục thuộc những tất cả các loại hình và cấp độ giáo dục; chương trình giảng dạy và thi cử, giáo viên, cơ sở vật chất và trang bị của trường học; học bổng và trợ cấp học tập; cơ hội tham gia các hoạt động giáo dục thể chất và các hoạt động thể thao; tiếp cận với những thông tin giáo dục riêng biệt về bảo đảm sức khỏe và hạnh phúc gia đình, kể cả những thông tin và tư vấn về kế hoạch hóa gia đình. Ngoài ra, Điều 10 cũng yêu cầu các quốc gia thành viên nỗ lực hành động để xóa bỏ những quan niệm rập khuôn cản trở thực hiện quyền giáo dục của phụ nữ (trong đó có việc khuyến khích hình thức giáo dục chung cho cả học sinh nam nữ, sửa lại các sách giáo khoa, chương trình học tập, và điều chỉnh các phương pháp giảng dạy); tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia các chương trình giáo dục thường xuyên; giảm tỷ lệ nữ sinh bỏ học và tổ chức các chương trình dành cho những phụ nữ và trẻ em gái đã phải bỏ học.