đến đó chính là sự thiếu ý thức nghiêm trọng và thờ ơ của người dân. Nguyên nhân thứ hai gây ra ô nhiễm môi trường chính là sự thiếu trách nhiệm của các doanh nghiệp. Do đặt nặng mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, không ít doanh nghiệp đã vi phạm quy trình khai thác, góp phần gây ô nhiễm môi trường đáng kể. Ngoài ra còn có những hạn chế, bất cập trong bảo vệ môi trường, mà đặc biệt là hệ thống các văn bản này vẫn còn chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, tính ổn định không cao, tình trạng văn bản mới được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung là khá phổ biến, từ đó làm hạn chế hiệu quả điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế... trong việc bảo vệ môi trường.

Hội nhập kinh tế thế giới cũng Bảilà một trong những yếu tố có sức tác động lớn tới công tác bảo vệ môi trường của nước ta. Sự tác động này thể hiện ở những khía cạnh sau:

1. Hội nhập kinh tế góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường

Trong thời kỳ hội nhập kinh tế, nước ta được kế thừa thành tựu của các nước phát triển trên thế giới ở nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực lập pháp, đặc biệt là những ưu việt trong kỹ thuật lập pháp của Pháp, Đức,... Nhờ vậy, hệ thống lập pháp về môi trường của nước ta dần được hoàn thiện.

Hệ thống pháp luật môi trường của nước ta trong thời kỳ hội nhập tương đối đầy đủ; được bổ sung thêm nhiều quy định rõ ràng, chặt chẽ hơn về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân có liên quan cũng như chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý có thẩm quyền. Nhìn chung, hệ thống pháp luật của nước ta, liên quan đế lĩnh vực này đã trở thành một trong những công cụ hữu hiệu, góp phần nâng cao hiệu quả của công bảo vệ môi trường trên phạm vi cả nước.

2. Tạo điều kiện áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại thân thiện môi trường vào sản xuất

Kể từ khi tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta có điều kiện nhập khẩu những trang thiết bị, công nghệ tiên tiến, những sản phẩm thân thiện với môi trường, đồng thời nâng cao sức cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm, thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển, tạo điều kiện thuận lợi thực thi các giải pháp bảo vệ môi trường. Nhờ dòng đầu tư trực tiếp của nước ngoài, Việt Nam được tiếp cận với công nghệ tiên tiến, hiện đại, “xanh” và “thân thiện” hơn với môi trường, ít gây ô nhiễm và sử dụng nguyên liệu hiệu quả hơn trong quá trình sản xuất.

Trên thực tế, với sự trợ giúp của quốc tế đã có một số dự án sản xuất sạch được thực hiện thành công tại Việt Nam. Nó chứng minh hiệu quả và lợi ích cho doanh nghiệp thông qua giảm chi phí đầu vào, nâng cao hiệu quả sản xuất đồng thời bảo vệ môi trường.

3. Đảm bảo nguồn lực tài chính đối với các hoạt động bảo vệ môi trường

Là thành viên củaWTO Việt Nam phải thực hiện những cam kết về mức thuế nhập khẩu, từ khi nhập khẩu Việt Nam sẽ áp dụng thuế nhập khẩu trên cơ sở thuế suất ưu đãi (MFN) cho tất cả các nước thành viênWTO. Như vậy các doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài sẽ được hưởng những mức thuế thấp cho việc nhập khẩu, từ đó có thể giảm chi phí sản xuất, đầu tư đúng mức cho bảo vệ môi trường.

Ngoài ra, hội nhập kinh tế với sự phát triển sôi nổi của hoạt động nhập khẩu đem lại nguồn ngân sách đáng kể cho nước ta do vậy việc huy động các nguồn tài chính trong và ngoài nước cho quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam sẽ dễ dàng hơn. Tạo điều kiện thuận lợi để hỗ trợ tài chính cho các dự án, các hoạt động phòng chống khắc phục ô nhiễm và suy thoái môi trường, giải quyết các vấn đề môi trường khác.

4. Tăng nguy cơ suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên

Sự phát triển năng đội của nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập vừa là thời cơ và cũng là thách thức đối với mục tiêu phát triển bển vững, phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường. Việc nhập khẩu hàng hoá, vật tư, công nghệ,... nếu không được kiểm tra, giám sát chặt chẽ sẽ dẫn Việt Nam đến nguy cơ trở thành bãi chứa các thiết bị, dây chuyền lạc hậu, nơi tiêu thụ những hàng hoá kém chất lượng. Thực tế hiện nay cho thấy tình trạng nhập khẩu các loại phế liệu sắt, thép, ắc quy, tàu cũ,... để làm nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất vẫn đang tồn tại những bất cập, thậm chí cả những bất đồng không nhỏ giữa các cơ quan có thẩm quyền, nhà chức trách với thương nhân, doanh nghiệp.

Với việc mở rộng xuất nhập khẩu thông qua các FTA, gia tăng ô nhiễm môi trường xuyên quốc gia là một nguy cơ có thực nếu những thay đổi về chính sách, pháp luật và thực thi không theo kịp quá trình hội nhập. Xu hướng xuất khẩu ô nhiễm từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển thông qua FDI đã từng được nhiều chuyên gia cảnh báo rằng sẽ ngày càng gia tăng và Việt Nam có nguy cơ trở thành một trong những nước có mức nhập khẩu ô nhiễm cao bởi các tiêu chuẩn về môi trường còn thấp.

Hiện nay, tại Việt Nam nhiều dự án FDI có điểm giống nhau là hướng đến khai thác tài nguyên (đất, nước, môi trường, năng lượng…) giá rẻ của Việt Nam. Một khi các địa phương vẫn chú trọng chạy theo thành tích tăng trưởng, không vì mục tiêu phát triển bền vững, bị động với ý đồ của nhà đầu tư, phá vỡ quy hoạch ngành, quy hoạch vùng thì các dự án tận dụng và thậm chí tận diệt nguồn tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường sẽ còn tiếp tục xuất hiện.

Khi nền kinh tế hội nhập các, các hoạt động thương mại không chỉ gò bó trong phạm vi quốc gia, mà còn được mở rộng ra toàn cầu. Vì vậy, các mặt hàng của nước ta có điều kiện xuất khẩu sang các nước khác thuận lợi hơn. Do đó, để gia tăng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, chúng ta phải khai thác triệt để mọi nguồn lực tự nhiên như các loại tài nguyên, đặc biệt là nguồn tài nguyên không tái tạo (dầu mỏ, than đá, quặng sắt,...).

Do vậy, nếu không chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu xuất khẩu sẽ dẫn đến việc khai thác quá mức, rừng bị tàn phá, tổn hại đến đa dạng sinh học, cảnh quan, môi trường tiếp tục ô nhiễm. Điều này tiềm ẩn nguy cơ mắc phải “lời nguyền tài nguyên”, có thể khiến “căn bệnh Hà Lan bùng phát và ảnh hưởng lớn đến phát triển bền vững trong tương lai.

5. Thay đổi cách thức tiêu dùng của dân cư

Tự do hoá thương mại trong thời kỳ hội nhập góp phần thúc đẩy sự phát triển nhiều loại hình dịch vụ. Tuy nhiên, quá trình này mang tính hai mặt, một mặt nó tạo ra những tiền đề để thay đổi nhận thức của người tiêu dùng trong việc bảo vệ môi trường, mặt khác nếu không quản lý và kiểm soát chặt chẽ sự phát triển của các loại hình dịch vụ: như lưu thông hàng hoá, đặc biệt là các chất gây ô nhiễm như xăng dầu, hoá chất, thuốc bảo vệ thực vật, hệ thống chợ, hệ thống dịch vụ ăn uống, các điểm giết mổ, các cơ sở sản xuất và chế biến, túi nilon, hệ thống kho thương mại,... thì nguy cơ ô nhiễm môi trường và các sự cố môi trường nảy sinh là vấn đề cần tính đến. Bên cạnh đó, nạn buôn bán hàng giả, hàng nhái, buôn lậu… có nguy cơ gia tăng theo tốc độ hội nhập cũng góp phần hủy hoại môi trường.

6. Ảnh hưởng tới môi trường sống

Dịch chuyển sản xuất (gia tăng đầu tư vào các ngành dệt, nhuộm, sắt, thép, lọc hóa dầu,...) dẫn đến gia tăng nhu cầu năng lượng, đồng thời cũng là những ngành tiềm ẩn nhiều tác động môi trường. Trong khi đó, Việt Nam đã, đang và sẽ phải đối mặt với vấn đề môi trường từ việc phát triển các nhà máy nhiệt điện than. Đây là vấn đề toàn cầu, và trong khi giải pháp ở các nước phát triển là từng bước loại bỏ chúng vì những thiệt hại quá lớn so với lợi ích thì dường như ở Việt Nam quy hoạch năng lượng vẫn khó thay đổi vì “chúng ta phải phát triển nhiệt điện than bởi không có cách nào khác”

8. Giải pháp tăng cường những tác động tích cực và giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường do Hội nhập kinh tế

Hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường

Xuất phát từ những cam kết quốc tế, pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta cần được nghiên cứu, hoàn thiện hơn.

Về xây dựng cơ chế mang tính nguyên tắc là: Buộc đánh giá tác động môi trường đối với mọi đề xuất cho bất kỳ một hoạt động nào có khả năng ảnh hưởng lớn tới môi trường thiên nhiên, trước khi chúng được thông qua. Quản lý chặt chẽ công nghệ, hàng hóa xuất, nhập khẩu có liên quan đến phát thải khí nhà kính

Về áp dụng kết hợp nhiều nhóm chính sách là cần thiết để đem lại hiệu quả thực thi.Vì vậy, bên cạnh sức ép bên ngoài, cần phải tạo những sức ép bên trong mạnh mẽ từ cộng đồng xã hội, hiệp hội ngành nghề, tổ chức, đồng thời ban hành các chính sách hỗ trợ nhất định để tạo điều kiện cho doanh nghiệp cũng thu được lợi ích kinh tế từ việc đầu tư cho các dự án bảo vệ môi trường. Ø

Ngoài ra, cần tạo ra áp lực cần thiết buộc các nhà kinh doanh chỉ cung ứng các sản phẩm thân thiện với môi trường cho người tiêu dùng. Điều này sẽ có tác động lan tỏa tới các nhà sản xuất.

Xây dựng các chính sách phát triển bền vững

Có chính sách nhằm đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu, để vừa khai thác các tiềm năng vừa tránh được tình trạng khai thác quá mức một số loại tài nguyên, gây cạn kiệt. Xây dựng chế tài kiểm soát xuất khẩu hàng lâm sản (gỗ và tài nguyên rừng ), khoáng sản,... Khuyến khích xuất khẩu những hàng hoá sử dụng các loại lâm sản thông dụng, có khả năng tái tạo nhanh. Kết hợp thuế bảo vệ môi trường vào hệ thống thuế nhập khẩu. Việc áp dụng thuế bảo vệ môi trường đối với hàng nhập khẩu sẽ đạt được nhiều mục tiêu: bảo vệ môi trường, bảo hộ sản xuất, tăng thu ngân sách nhà nước,... Điều này không trái với nguyên tắc của WTO, mà về một ý nghĩa nào đó còn được dư luận xã hội ủng hộ.

Tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu thông qua các chính sách ưu đãi về tín dụng cho đầu tư công nghệ xanh, công nghệ sạch. Cần thiết phải hỗ trợ về vốn đầu tư bảo vệ môi trường cho các doanh nghiệp có quy mô xuất khẩu lớn, có ảnh hưởng quyết định đến thị phần xuất khẩu của nước ta. Đó cũng chính là hướng đầu tư tập trung và có hiệu quả. Trên cơ sở các doanh nghiệp được đầu tư hiện đại này có thể tổ chức theo mô hình tập đoàn xuất khẩu lớn với các doanh nghiệp vệ tinh theo vùng lãnh thổ sẽ mang lại hiệu quả cao cho xuất khẩu đồng thời tăng cường năng lực của các tập đoàn trong việc vượt qua các rào cản ngày càng phức tạp hiện nay.

Đẩy mạnh sự phát triển của thị trường dịch vụ môi trường nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong khâu kỹ thuật xử lý ô nhiễm môi trường. Trong các khó khăn của doanh nghiệp để đối phó với các rào cản thương mại thì thiếu kỹ thuật được các doanh nghiệp cho là lớn nhất. Cần mở rộng mạng lưới dịch vụ môi trường để kịp thời tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận nhanh chóng và có hiệu quả các dịch vụ môi trường.

Đảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động bảo vệ môi trường

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế hoạt động của Quỹ bảo vệ môi trường. Tăng nguồn thu cho Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam từ phí bảo vệ môi trường đã và sẽ áp dụng tại Việt Nam. Mở rộng hợp tác quốc tế để huy động nguồn vốn bên ngoài, đặc biệt là nguồn vốn từ các chế định tài chính quốc tế như Quỹ môi trường toàn cầu, quỹ môi trường của một số nước đối tác...

Đối với các doanh nghiệp, cần xây dựng và thực hiện chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường như: Cho doanh nghiệp vay vốn ưu đãi để thực hiện các dự án sản xuất sạch hơn; Khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng góp vốn đầu tư hệ thống xử lý ô nhiễm trong làng nghề, cụm công nghiệp theo phương thức Nhà nước và doanh nghiệp cùng làm; Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ về thông tin, khả năng tiếp cận dịch vụ môi trường và nguồn nguyên liệu sạch; Trợ giúp các doanh nghiệp trong việc áp dụng hoặc chứng chỉ phù hợp; Nhanh chóng hình thành nguồn vốn hoặc quỹ môi trường của ngành để trợ giúp cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực thực thi quy định và pháp luật bảo vệ môi trường.

Tuy nhiên, dù là giải pháp nào, nhân tố chính quyết định tới thành bại của các chính sách, quy định về bảo vệ môi trường, đầu tiên vẫn là CON NGƯỜI. Con người có ý thức gìn giữ, bảo vệ môi trường thì mới có những hành động thiết thực bảo vệ môi trường. Từ đó, các chính sách và quy định pháp luật mới được nghiêm túc thực hiện. Do đó, tuyên truyền, phổ biến, nâng cao ý thức mỗi cá nhân, góp phần nâng cao ý thức của cả cộng đồng là điều vô cùng quan trọng.

Trân trọng!