1. Các đương sự trong vụ việc dân sự

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong Vụ việc dân sự là người tuy không khởi kiện, không phải là người yêu cầu, không bị kiện, nhưng khi giải quyết vụ việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ dân sự nên họ có thể tự mình để nghị hoặc đương sự khấc để nghị đưa họ vào tham gia tố tụng: hoặc do Toà án chủ động đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có hai dạng:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu đệc lập, họ tham gia tố tụng độc lập với nguyên đơn, bị đơn, người yêu cầu; yêu cầu của họ có thể buộc nguyên đơn, bị đơn, người yêu cầu phải thực hiện nghĩa vụ đối vối họ. Thông thường, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tô tụng độc lập có đủ điều kiện pháp lý khởi kiện vụ án dân sự nhưng do vụ việc dân sự đã xuất hiện giữa nguyên đơn, bị đơn, người yêu cầu mà quyền lợi của họ. gắn với nguyên đơn, bị đơn hoặc với cả hai. Vì vậy, họ phải tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nếu không việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ sau đó có thể sẽ gặp khó khăn hơn.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tham gia tố tụng không độc lập là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà quyền hoặc nghĩa vụ của họ gắn với nguyên đơn, bị đơn hoặc lợi ích của họ gắn với yêu cầu của người yêu cầu trong việc dân sự, nên việc tham gia tố tụng của họ ít nhiều bị phụ thuộc vào hành vi tố tụng của các đương sự nói trên. Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn có quyền định đoạt các vấn đề thuộc lợi ích của mình.

Theo quy định tại phần thứ năm Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì chỉ có người yêu cầu và “người có liên quan” trong việc dân sự. Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành cũng không đề cập khái niệm về người yêu cầu. Tuy nhiên, có thể hiểu khái niệm về người yêu cầu như sau:

- Người yêu cầu trong việc dân sự là người tham gia tố tụng đưa ra các yêu cầu về giải quyết việc dân sự. Việc tham gia tố tụng của người yêu cầu trong việc dân sự cũng chủ động như nguyên đơn trong vụ án dân sự. Tuy nhiên, yêu cầu của họ chỉ giới hạn trong phạm vi yêu cầu Toà án công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quyền, nghĩa vụ của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu cầu Toà án công nhậh cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

Ngoài ra, những người sau đây được gọi là những người có liên quan:

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờ và được Toà án chấp nhận để tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Những người này có thể là Luật sư tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật về Luật sư; hoặc là công dân Việt Nam có năng lực hành vi dận sự dầy đủ, chưa bị kết án hoặc bị kết án nhưng đã được xoá án tích, không thuộc trường hợp dạng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sỏ chữa bệnh, cơ sỏ giáo dục và quản chế hành chính; không phải là cán bộ, công chức trong các ngành Toà án, Kiểm sát, Công an.

Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Người đại diện theo pháp luật được quy định trong Bộ luật dân sự là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp bị hạn chế quyển đại diện theo quy định của pháp luật. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng là đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự củà người được bảo vệ.

- Người làm chứng là người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ việc dân sự theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết Toà án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng. Quyển và nghĩa vụ của người làm chứng được quy định tại Điều 66 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành.

2. Khái niệm về chứng cứ

Căn cứ Điều 93 Bộ Luật tố tụng Dân sự quy định về khái niệm chứng cứ như sau:

"Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp".

3. Đặc điểm của chứng cứ

Chứng cứ luôn được xem là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định, là cơ sở giúp Tòa án đưa ra kết luận cuối cùng, vì vậy chứng cứ luôn cần phải đảm bảo 03 yếu tố: tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp nhằm tìm ra sự thật khách quan. Cụ thể:

- Tính khách quan: chứng cứ không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người - không được tạo ra chứng cứ. Do đó, con người chỉ có thể nhận thức về nó, thu thập, nghiên cứu, đánh giá nó, chứ không thể tạo ra chứng cứ theo đúng ý nghĩa, bản chất của chứng cứ. Mọi hành vi sửa chữa, thay đổi, tạo ra cái gọi là chứng cứ, thì đó chắc chắn không phải là chứng cứ của vụ án, đó là giả chứng cứ. Vì vậy, khi thu thập, nghiên cứu về chứng cứ phải rất chú ý đến tính khách quan của chứng cứ, phải xem xét nội dung các tài liệu có phải xác thực hay không, nó xuất hiện khi nào? ai là người viết, ai là ngưòi quản lý, lưu giữ hay phát hiện ra nó; chứng cứ đó có phản ánh đúng bản chất của sự việc hay không... để xem xét, đánh giá nó như nó vốn có.

- Tính liên quan: chứng phải liên quan trực tiếp, gián tiếp đến vụ việc. Sự liên quan này có thể là trực tiếp, rất dễ nhận ra, nó giúp chúng ta nhận thức ra ngay bản chất, sự thật khách quan của vụ việc dân sự đó.

- Tính hợp pháp: chứng cứ phải được thu thập, bảo quản, xem xét, đánh giá, nghiên cứu theo trình tự, thủ tục luật định. Ví dụ: chứng cứ phải là một trong các nguồn theo quy định của BLTTDS, phải được giao nộp trong một thời gian luật quy định...

4. Khái niệm về lấy lời khai

Lấy lời khai người làm chứng là hoạt động điều tra thu thập chứng cứ do người làm chứng đưa ra nhằm giải quyết vụ án. Để việc lấy lời khai của người làm chứng đạt kết quả, điều tra viên phải nghiên cứu hồ sơ vụ án, nhân thân người làm chứng, lập kế hoạch lấy lời khai.

Điều 89 trong Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về lấy lời khai. Theo đó, thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng.

Đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình. Trường hợp đương sự không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự.

Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy đủ, rõ ràng. Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản.

Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Tòa án; trường hợp cần thiết có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án.

Việc lấy lời khai của đương sự thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 69 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện hợp pháp của đương sự đó. ( đương sự là người chưa đủ sáu tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự; người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi)

5. Áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ bằng cách lấy lời khai của đương sự

Đây là một trong những biện pháp thu thập chứng cứ quan trọng. Trước đây, khi Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 quy định Toà án có vai trò chủ động, tích cực trong việc thu thập chứng cứ, thì việc lấy lời khai của đương sự là một trong những biện pháp mà Toà án phải thường xuyên sử dụng và hầu hết các vụ án dân sự khi tiến hành giải quyết, Toà án thường chủ động tiến hành lấy lời khai của đương sự. Nhưng theo quy định mới tại khoản 1 Điều 86 của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì: “Thâm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng. Đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình. Trong trường hợp đương sự không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự. Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy đủ, rõ ràng. Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Toà án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản. Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Toà án, trong trường hợp cần thiết có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Toà án”.

Theo quy định của điều luật này, thì việc thu thập chứng cứ thông qua lời khai của đương sự, được thể hiện dưổi dạng sau:

Thứ nhất: các đương sự viết bản tự khai trình bày rõ tất cả các vấn đề mà đương sự quan tâm. Thực tế, trước đây khi chưa có Bộ luật tố tụng dân sự thì Thẩm phán hoặc cán bộ Toà án có hướng dẫn cho đương sự thực hiện việc tự khai hoặc đương sự tự trình bày qua đơn. Khi Bộ luật tố tụng dân sự được ban hành thì việc đương sự tự viết bản khai như đã được quy định ở Điều 98 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành, và trỏ thành một hình thức thu thập chứng cứ thông qua lồi khai của đương sự. Quy định này có ý nghĩa thực tiễn, bảo đảm cung cấp chứng cứ một cách chính xác, khách quan mà không bị bất cứ sự ép buộc nào, và giảm bớt một phần công việc cho Tòa án. Tuy nhiên, để bản tự khai ngắn gọn, có chất lượng thì Thẩm phán nên giải thích các quy định của pháp luật có liên quan đến yêu cầu của các đương sự và quan hệ pháp luật phải giải quyết, đồng thời hưống dẫn đương sự nên khai vào những vấn đề mấu chốt, có ý nghĩa làm sáng tỏ vụ việc dân sự. Việc viết bản tự khai có thể do đương sự tự viết tay hoặc đánh máy, nếu đánh máy hoặc người khác viết hộ phải yêu cầu đương sự ký vào tất cả các trang, có đoạn nào tẩy, xoá thì yêu cầu đương sự phải ghi chú, nói rõ việc tẩy, xoá do chính đương sự tự làm.

Tuy nhiên hiện nay, do sự phát triển của khoa học - công nghệ, đương sự có thể viết bản tự khai sau đó fax hoặc gửi thư điện tử tồi thì có nên chấp nhận hay không? Trong Bộ luật tố tụng dân sự không quy định rõ vấn đề này, nhưng theo quan điểm của tác giả thì cần chấp nhận. Vì bản chất vấn đề là lấy được lời khai theo đúng ý chí đích thực của đương sự. Sau khi nhận được bản tự khai bằng fax hoặc qua thư điện tử thì ngay sau đó đương sự phải gửi bản gốc đến Toà án và đây là văn bản có giá trị pháp lý được lưu vào hồ sơ vụ án. Khi ứng dụng công nghệ thông tin của ngành Tòa án phát triển ở mức cao sẽ có các quy định thích hợp, không bắt buộc phải gửi bản tự khai bằng văn bản đến Tòa án.

Ngoài ra, trong trường hợp đương sự yêu cầu lấy lời khai thông qua điện báo, telex chúng ta có chấp nhận hay không? Theo ý kiến riêng thì không thể chấp nhận được bỏi vì trong trường hợp này đương sự sẽ không ký được vào biên bản ghi lồi khai, do vậy, biên bản đó cũng không có giá trị pháp lý. Hơn nữa, nếu chấp nhận việc lấy lời khai qua điện báo, telex dễ dẫn đến sự giả mạo lời khai, V.V..

Thứ hai: Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai trong các trường hợp sau:

- Đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung của bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng.

- Trường hợp đương sự không thể tự viết được bản tự khai.

Khi tiến hành lấy lời khai của đương sự, Thẩm phán cần tập trung làm rõ những điểm mà đương sự khai chưa rõ ràng, đầy đủ, những mâu thuẫn trong chính bản khai của đương sự hoặc những điểm mâu thuẫn giữa bản khai của đương sự này với bản khai của đương sự khác, giữa bản khai của đương sự vối lời khai của nhân chứng hoặc các tài liệu, chứng cứ có liên quan có trong hồ sơ.

Nếu trước đây, do Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 chỉ quy định chung là Toà án tiến hành các biện pháp điểu tra, nên nhiều Toà án coi việc giao cho thư ký làm nhiệm vụ điều tra trong các vụ án dân sự là việc bình thường, thì nay Bộ luật tố tụng dân sự đã quy định rõ Thẩm phán phải đảm nhiệm vai trò này, do đó Thẩm phán không được giao cho thư ký lấy lời khai. Thẩm phán có thể tự mình ghi biên bản hoặc thư ký Toà án giúp Thẩm phán ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản.

Trong quá trình lấy lời khai, Thẩm phán phải có thái độ ôn tồn, nhẹ nhàng tạo sự tin cậy, tránh truy bức, mạt sát đương sự.

Để việc lấy lời khai có hiệu quả, Thẩm phán cần đọc kỹ hồ sơ tài liệu để phát hiện hết những điều chưa rõ, có mâu thuẫn nhau từ đó có kế hoạch hỏi ai trưốc, ai sau (nếu vụ án có nhiều đương sự), hỏi vấn đề gì, hỏi vào lúc nào, v.v. tránh tình trạng đưa ra các câu hỏi tuỳ tiện, không rõ mục đích, không đúng trọng tâm, vấn đề gì cũng hỏi lướt qua, biên bản thì dài mà không có vấn để nào có thể kết luận được. Khi đặt ra câu hỏi, nên đưa ra các câu hỏi có tính tổng quát trưôc, sau đó tuỳ theo diễn biến mà đi sâu vào từng vấn đề cụ thể mà hồ sơ chưa rõ hoặc đang có mâu thuẫn. Bất kỳ một vấn đề gì khi hỏi xong đều có câu hỏi chốt lại, không nên bỏ lửng vấn đề.

Ví dụ: Trong một vụ truy nhận cha cho con, đương sự có khai: “Tôi có quan hệ với cô ấy”, Thẩm phán không dừng ở đây mà phải hỏi tiếp để làm rõ hơn tính chất của mốì quan hệ, nếu đó chính là quan hệ yêu đương thì có quan hệ sinh lý không, bao nhiêu lần, vào thời gian nào, ở đâu, có ai bắt gặp không, v.v. hoặc trong vụ án ly hôn có liên quan đến các khoản vay nợ trọng thời gian sông chung, Thẩm phán không hỏi ngay từ đầu tổng số nợ, thời gian, số tiền mỗi lần vay, vay để dùng làm việc gì? Có giấy tờ không? Đã trả nợ đến đầu, khi vay, bên kia có biết không? Có trường hợp một bên đã thừa nhận lời khai của phía bên kia là vợ hoặc chồng có vay nợ, Thẩm phán thấy đương sự công nhận đã thỏa mãn, không hỏi tiếp, dẫn đến sau này đương sự chối bỏ lời khai của mình rất dễ dàng.

Khi đương sự đưa ra một vấn đề, đương sự khác không công nhận thì ngoài việc yêu cầu các bên xuất trình chứng cứ, tài liệu, Thẩm phán phải xác minh, kết luận chứ không nên tuỳ tiện dựa vào lời khai của một bên nào để quyết định.

Thông thường, Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Toà án, “trong trường hợp cần thiết” mới lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Toà án. “Trường hợp cần thiết” được hiểu là ở thời điểm đó đương sự mối sinh con, ốm đau, bệnh tật nặng, già yếu, đang bị giam giữ, đương sự ở vùng xa xôi hẻo lánh, vùng rừng núi điểu kiện kinh tế của đương sự, cũng như việc đi lại gặp nhiều khó khăn hoặc gặp trở ngại khách quan như lũ, lụt, V.V.. Khi phải lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Toà án phải có người lầm chứng hoặc xác nhận của uỷ ban nhân dân, Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan tổ chức nơi Thẩm phán lập biên bản lấy lời khai.

Trong trường hợp lấy lời khai mà đương sự là người còn vị thành niên (quy định tại khoản 4, khoản 5, Điểu 69 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành) thì phải được tiến hành vối sự có mặt của người đại diện hợp pháp của đương sự đó và người đại diện hợp pháp của họ phải ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào biên bản ghi lời khai.

Sau khi lấy lời khai xong, phải cho đương sự, người đại diện hợp pháp của họ đọc lại hay nghe đọc lại; đương sự, người đại diện hợp pháp có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời khai và phải có chữ ký của đương sự, của người đại diện hợp pháp xác nhận vào việc sửa đổi, bổ sung hoặc chỗ xoá bỏ đó. Tuy nhiên cần lưu ý là, không nên viết đè lên chỗ đã xoá hoặc viết chèn thêm vào dòng đã viết hoặc dùng bút xoá xoá rồi viết đè lên. Sau khi kết thúc biên bản, cần ghi rõ biên bản đã được đương sự tự đọc lại, hoặc được nghe đọc lại, công nhận đúng và yêu cầu đương sự ký tên hoặc điểm chỉ. Cần lưu ý, ngoài việc ký hoặc điểm chỉ, phải yêu cầu đương sự ghi rõ họ tên dưới chữ ký; nếu có thư ký ghi biên bản thì cả thư ký và Thẩm phán cùng phải ký vào biên bản và đóng dấu của Toà án. Thực tế, có Thẩm phán không ghi các thông tin cần thiết như ai lấy lời khai, chức vụ, lấy lời khai của ai...ở phần đầu biên bản hoặc lấy lời khai xong không ký vào biên bản, nhất là khi có thư ký ghi biên bản thì chỉ để mình thư ký ký vào biên bản hoặc trong biên bản có chỗ sửa đổi, bổ sung nhưng không yêu cầu đương sự hoặc người đại diện hợp pháp ký xác nhận, là không đúng; nếu biên bản được ghi thành nhiều trang rời nhau thì phải ký vào từng trang và đóng dấu giáp lai...

chứng cứ có thể xuất phát từ yêu câu của các đương sự, cungx có thể do Tòa án thấy điều đó là cần thiết. Như vây, chứng cứ được coi là “cần thiết” nếu việc lấy tời khai người làm chứng bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự được toàn.diện, chính xác, công minh, đúng pháp luật, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. về cách thức, thủ tục lấy lời khai của người làm chứng, việc hoàn thiện về mặt hình thức biên bản để biên bản lấy lời khai có giá trị pháp lý cao, cần làm tương tự như biên bản lấy lòỉ khai đương sự được quy định tại khoản 2 Điều 98 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành. Lưu ý, việc lấy lời khai của người làm chứng chưa đủ tuổi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện theo pháp luật hoặc người đang thực hiện việc quản lý, trông nom người đó và yêu cầu những người này ký tên vào biên bản về việc họ chứng kiến trong quá trình Thẩm phán lấy lời khai. Thẩm phán có thể lấy lời khai của người làm chứng tại trụ sở Tòa án hoặc ngoài trụ sở Tòa án.

Thông thường, sau khi việc lấy lời khai kết thúc, khiến Thẩm Phán lúng túng không biết xử lý ra sao hoặc xử lý không chặt chẽ dẫn đến biên bản ghi lời khai đó không có giá trị khách quan, chính xác cửa biên bản. Khi tình huống này xảy ra, Thẩm phán cần hỏi rõ lý do vì sao họ không ký vào biên bản. Nếu họ không vào biên bản thì phải ghi rõ lý do mà họ không ký. Có người chứng kiến việc Tòa án lấy lời khai thì yêu cầu cả người chứng kiến cùng Thẩm phán, thư ký ký vào biên bản lấy lời khai đó.