Thưa luật sư, hiện tại em đang nghiên cứu về tái phạm và tái phạm nguy hiểm theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam. Em có thắc mắc về nội dung tái phạm và tái phạm nguy hiểm trong lịch sử xây dựng pháp luật hình sự Việt Nam. ?

Rất mong sẽ được luật sư giải đáp cụ thể về nội dung này. Em xin chân thành cảm ơn!

(Người hỏi: Hoàng Ngà - Hà Nội)

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

1. Tái phạm là gì? Tái phạm nguy hiểm là gì?

Tái phạm và tái phạm nguy hiểm được quy định cụ thể tại Điều 53 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Theo đó,

Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

+ Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

+ Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

Có thể thấy quy định về tái phạm và tái phạm nguy hiểm tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi) không có nhiều thay đổi về mặt ý nghĩa so với quy định tại Điều 49 Bộ luật hình sự năm 1999. Sự thay đổi cụ thể chính là thay thế cụm từ "phạm tội" chuyển thành cụm từ "thực hiện hành vi phạm tội".

 

2. Lịch sử ghi nhận về tái phạm và tái phạm nguy hiểm trong luật hình sự nước ta

2.1. Lịch sử ghi nhận về tái phạm

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời. Cùng với sự phát triển của đất nước, luật hình sự cũng từng bước được hoàn thiện. Tái phạm, tái phạm nguy hiểm lần đầu tiên được quy định trong Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970 và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ngày 21/10/1970. Tuy nhiên, trong hai Pháp lệnh này, khái niệm tái phạm, tái phạm nguy hiểm chưa được ghi nhận chính thức về mặt lập pháp.

Trong dự thảo Thông tư ngày 16/3/1973 của liên bộ Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an hướng dẫn thống nhất nhận thức về hai Pháp lệnh này, người tái phạm được hiểu là:

“Đây là những kẻ mà tội phạm bị kết án trước kia và tội phạm sau này thuộc cùng một loại xâm phạm tài sản và cùng loại lỗi cố ý hoặc vô ý, chứ không nhất thiết phải cùng một tội. Ta chưa có quy định về thời hiệu pháp lý của bản án về tội trước, để phù hợp với thực tê và có tác dụng tốt đối với việc giáo dục chung, có thể thống nhất thòi hạn này là năm năm đối với những án dưối năm năm và là mười năm đối với những án từ năm năm trở lên, kể từ sau khi chấp hành xong hình phạt” .

Dự thảo Thông tư này cũng đã đưa ra khái niệm tái phạm nguy hiểm như sau:

“Tái phạm nguy hiểm là trường hợp trước đã bị xử án về một tội nghiêm trọng sau cũng phạm một tội nghiêm trọng hoặc trước đã bị xử án về tội không nghiêm trọng nay phạm vào một tội nghiêm trọng. Tội nghiêm trọng là những tội:

+ Tự bản chất nó là tội nghiêm trọng (cướp, cố ý hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản).

+ Hoặc xảy ra với những tình tiết tăng nặng ở các khung 2 và 3 của các điều luật về các tội phạm mà Pháp lệnh quy định là có tái phạm nguy hiểm”

Trong Bộ luật hình sự năm 1979, khái niệm tái phạm được quy định tại Điều 61: “Người phạm tội bị phạt từ tù có thời hạn trở lên, trong vòng 03 năm sau khi chấp hành xong án hoặc được ân xá lại phạm tội đáng bị xử phạt từ tù có thời hạn trở lên gọi là tái phạm phải chịu hình phạt nặng, nhưng được trừ tội đã phạm trước đó”. Điều 62 quy định: “Sau khi chấp hành xong hình phạt hoặc được hưởng ân xá, người phạm tội phản cách mạng lại phạm tội phản cách mạng thì bất cứ lúc nào cũng bị coi như kẻ tái phạm”

Trên cơ sở những dấu hiệu chung của tái phạm, Điều 40 Bộ luật hình sự năm 1985 còn tiến thêm một bước trong việc cá thể hóa trách nhiệm hình sự bằng cách quy định thêm một loại tái phạm nữa có mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn, đó là tái phạm nguy hiểm. Tái phạm nguy hiểm được biểu hiện bằng hai trường hợp:

+ Đã bị phạt tù về tội nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án mà lại phạm tội nghiêm trọng do cố ý;

+ Đã tái phạm, chưa được xoá án mà lại phạm tội ít nghiêm trọng do cố ý hoặc tội nghiêm trọng.

Trong Bộ luật hình sự năm 1985, tái phạm đóng vai trò vừa là dấu hiệu định khung tăng nặng hình phạt trong nhiều điều luật của Phần các tội phạm, vừa là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 39 của Bộ luật hình sự.

Theo chúng tôi, việc coi hình thức lỗi là một trong những dấu hiệu của tái phạm là hoàn toàn đúng đắn. Tuy nhiên, nếu ý nghĩa của tái phạm là ở việc phân định những người phạm tội có tính chất nguy hiểm cho xã hội cao, khó giáo dục, cải tạo và có nhiều khả năng phạm tội mới, thì việc Bộ luật hình sự năm 1985 đưa ra những trường hợp phạm tội do vô ý nghiêm trọng để xem xét vấn đề tái phạm lại là chưa hợp lý. Bởi lẽ xu hướng nhân đạo của luật hình sự được thừa nhận chung là loại bỏ tất cả các tội vô ý ra khỏi phạm vi các tội có thể cấu thành tái phạm.

Bộ luật hình sự năm 1999 đã có những sửa đổi cơ bản về tái phạm và tái phạm nguy hiểm theo hướng thay điều kiện “bị phạt tù” thành “đã bị kết án”; sửa điều kiện “chưa được xóa án” thành “chưa được xóa án tích” cho chặt chẽ hơn. Cụ thể, theo quy định tại Điều 49 Bộ luật hình sự năm 1999, khái niệm tái phạm, tái phạm nguy hiểm được định nghĩa như sau:

“1. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

a) Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý” .

Như vậy, theo quy định của khoản 1 Điều 49 Bộ luật hình sự năm 1999 thì một người chỉ được coi là tái phạm khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

+ Thứ nhất, người đó đã bị kết án. Người đã bị kết án là người có bản án kết tội của Toà án mà không phụ thuộc vào việc bản án đó có hiệu lực pháp luật hay chưa. Vì vậy, ngay từ khi tuyên bản án kết tội thứ nhất đối với một người mà người đó phạm tội mới thuộc các trường hợp theo quy định của khoản 1 Điều 49 Bộ luật hình sự năm 1999 thì được coi là tái phạm. Tuy nhiên, theo nguyên tắc nhân đạo của Nhà nước ta trong chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, mở đường cho họ nhanh chóng tái hoà nhập cộng đồng sau khi phạm tội, khoản 6 Điều 69 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm”. Vì vậy, một người phạm tội mới trong thời gian có án tích nhưng tội cũ được thực hiện khi người đó chưa đủ 16 tuổi thì không được coi người đó là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.

+ Thứ hai, người bị kết án chưa được xoá án tích. Điều đó có nghĩa, điều kiện bắt buộc là việc kết án đó phải phát sinh án tích và án tích chưa được xoá. Do đó, một người bị kết án nhưng được miễn trách nhiệm hình sự (Điều 25 Bộ luật hình sự năm 1999), bị buộc phải thực hiện các biện pháp tư pháp như bắt buộc chữa bệnh (Điêu 43 Bộ luật hình sự năm 1999), miễn hình phạt (Điều 54 Bộ luật hình sự năm 1999), buộc chịu giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng (Điều 70 Bộ luật hình sự năm 1999) và sau đó lại phạm tội mối thì không phải là tái phạm.

+ Thứ ba, phạm tội mới do cố ý hoặc tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý. Không phải bất kỳ trường hợp phạm tội mới nào trong thời gian có án tích đối với tội phạm trước đều là tái phạm. Để xác định tái phạm, Bộ luật hình sự đòi hỏi tội phạm mới được thực hiện phải thuộc một số trường hợp phạm tội nhất định thể hiện nhân thân của người phạm tội là không chịu tiếp thu các biện pháp cải tạo giáo dục của pháp luật. Theo quy định của Bộ luật hình sự thì tội phạm mối được thực hiện phải là bất kỳ tội nào do cố ý hoặc tội rất nghiêm trọng (tội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là từ trên bảy năm đến mười lăm năm tù) hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng (tức tội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân, hoặc tử hình) do vô ý.

 

2.2. Lịch sử ghi nhận về tái phạm nguy hiểm

Cùng với khái niệm tái phạm, Bộ luật hình sự năm 1999 cũng quy định khái niệm tái phạm nguy hiểm. Tái phạm nguy hiểm là trường hợp đặc biệt của tái phạm nên vẫn đòi hỏi các điều kiện cần và đủ như đối với tái phạm đã phân tích trên. Tuy nhiên, là một trường hợp đặc biệt của tái phạm nên tái phạm nguy hiểm cũng có các điều kiện riêng. Các điều kiện riêng này liên quan đến các trường hợp phạm tội đã thực hiện cũng như trường hợp phạm tội mới thực hiện. Theo quy định của khoản 2 Điều 49 Bộ luật hình sự năm 1999, những trường hợp sau đây là tái phạm nguy hiểm:

+ Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng (tội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là từ trên bảy năm đến mười lăm năm tù) do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng (tức tội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tộì ấy Tà trên mười lăm năm tù, tù chung thân, hoặc tử hình) do cố ý;

+ Đã bị kết án về tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng do cố ỳ hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

+ Đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý.

Qua các điều kiện nêu trên về tái phạm nguy hiểm, chúng ta thấy rằng, để có trường hợp tái phạm nguy hiểm thì các tội mới được thực hiện phải là do cố ý. Điều này thể hiện tích chất rất nguy hiểm của nhân thân người phạm tội là cố tình chống đối xã hội dù đã bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước để cải tạo, giáo dục trở thành người có ích cho xã hội mà lại tiếp tục có hành vi cố ý phạm tội.

Về vấn đề án tích, trong Bộ luật hình sự năm 1999 đã đề cập các trường hợp xoá án tích và cách tính thời hạn để xoá án tích nhưng chưa đưa ra khái niệm án tích. Dưới góc độ khoa học luật hình sự, có thể hiểu án tích là hậu quả pháp lý mà người phạm tội phải gánh chịu khi bị Tòa án kết án, theo đó người này có thể bị áp dụng tìnỈỊ tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm khi phạm tội mới. Như vậy, án tích bao giờ cũng gắn với việc một người bị kết án và thời điểm chưa được xóa án tích có ý nghĩa rất quan trọng đối với người bị kết án, nhất là trong công tác xét xử khi Tòa án cần phải xác định một người có tái phạm, tái phạm nguy hiểm hay không.

 

3. Cách phân biệt tái phạm và tái vi phạm ?

Cũng cần phân biệt tái phạm và tái vi phạm. Chỉ coi là tái phạm khi hành vi phạm tội được thực hiện sau đủ các yếu tố để cấu thành một tội phạm độc lập mà không phụ thuộc vào tội phạm trưốc đó. Nếu một người tuy đã bị kết án nhưng lại thực hiện hành vi mà hành vi đó chưa đến mức độ cấu thành tội phạm độc lập, thì chỉ là tái vi phạm chứ không phải là tái phạm. Ví dụ: Một người phạm tội trộm cắp đã bị kết án, trong thòi gian có án tích lại có hành vi trộm cắp. Nếu hành vi trộm cắp trên 500.000 đồng thì đó là tái phạm và phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999; nếu hành vi trộm cắp đó dưới 500.000 đồng và không gây hậu quả nghiêm trọng thì không phải là tái phạm mà là tái vi phạm.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung "Tái phạm là gì? Tái phạm nguy hiểm là gì? Ghi nhận về tái phạm và tái phạm nguy hiểm trong lịch sử pháp luật hình sự nước ta". Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!