Trả lời:

Để khắc phục tình trạng còn khoảng trống pháp lý đối với di sản thừa kế hết thời hiệu khởi kiện thừa kế và không đủ điều kiện để phân chia tài sản chung, Bộ luật dân sự năm 2015 đã bổ sung quy định đổi với trường hợp hết thời hạn yêu cầu chia di sản thừa kế, cụ thể là, hết thời hạn yêu cầu chia di sản thùa kế thì di sản thuộc vể người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 Bộ luật dân sự năm 2015 hoặc di sản thuộc về Nhà nước nếu không có người chiếm hữu (Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015).

Quy định này đã khá rõ ràng và giải quyết căn bản, hợp lý đối với di sản hết thời hiệu yêu cầu chia thừa kế. Tuy nhiên, vẫn còn có cách hiểu khác nhau về khái niệm người thừa kế đang quản lý di sản trong khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 nói trên.

Có quan điểm cho rằng, người thừa kế trong quy định này phải hiểu là người thừa kế ở hàng thùa kế thứ nhất, vì sẽ là bất hợp lý nếu người quản lý di sản là cháu của người để lại di sản, trong khi các con của người để lại di sản (là chú, bác của người quản lý dĩ sản lại không được hưởng).

Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 613 Bộ luật dân sự năm 2015 thì:

“Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế

Như vậy, quy định về người thừa kế trong Bộ luật dân sự không phân biệt người thừa kế ở hàng thứ nhất, thứ hai... Do vậy, cần phải hiểu người đang quản lý di sản quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 không đòi hỏi phải thuộc hàng thừa kế thứ nhất mà có thể là người thừa kế ở hàng thừa kế thứ hai, thứ ba.

Cách hiểu này cũng hoàn toàn hợp lý, vì di sản thậm chí có thể được xác lập quyền sở hữu cho người không phải là người thừa kế của người để lại di sản, nếu người này chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản và 30 năm đối với bất động sản như quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến việc chia tài sản thừa kế, pháp luật thừa kế, vui lòng liên hệ trực tiếp: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)