1. Quyền bầu cử của công dân
Theo Điều 27 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013 quy định: "Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định." Và Điều 2 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định như sau: "Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này".
Quyền bầu cử là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật quy định trong việc lựa chọn người đại biểu của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân. Quyền bầu cử bao gồm việc giới thiệu người ứng cử và bỏ phiếu bầu cử để lựa chọn người đại diện cho mình tại Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
Thông qua bầu cử, công dân trực tiếp bỏ phiếu bầu người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình, thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước, góp phần thiết lập bộ máy nhà nước để tiến hành các hoạt động quản lý xã hội. Vì vậy, thực hiện bầu cử là trách nhiệm của công dân đối với đất nước.
2. Nguyên tắc bầu cử
Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc bầu cử phổ thông
- Nguyên tắc bình đẳng
- Nguyên tắc bầu cử trực tiếp
- Nguyên tắc bỏ phiếu kín
Trong đó, nguyên tắc bầu cử phổ thông là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ bầu cử. Theo nguyên tắc này, moi công dân, không phân biệt dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật, trừ những trường hợp không được tham gia bầu cử được đề cập ngay sau đây.
3. Các trường hợp không được tham gia bầu cử
Theo Điều 30 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, những trường hợp không được tham gia bầu cử bao gồm:
- Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
- Người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án; Người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo;
- Người mất năng lực hành vi dân sự.
Những trường hợp trên không được ghi tên vào danh sách cử tri, như vậy những người thuộc những trường hợp này không được tham gia bầu cử.
Tuy nhiên nếu như những người trên nếu đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ sẽ được khôi phục lại quyền bầu cử, được trả lại tự do hoặc được cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn trong tình trạng mất năng lực hành vi dân sự thì được bổ sung vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri theo quy định tại Điều 29 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015.
Những người đã có tên trong danh sách cử tri mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu mà bị Tòa án tước quyền bầu cử, phải chấp hành hình phạt tù hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì Ủy ban nhân dân cấp xã xóa tên người đó trong danh sách cử tri và thu hồi thẻ cử tri.
Như vậy, cần xác định tại thời điểm bầu cử, người đó có nằm trong những trường hợp không được tạm gia bầu cử hay không để xác nhận có được bổ sung vào danh sách cử tri hay không. Ví dụ đối với trường hợp người bị mất năng lực hành vi dân sự: Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần. Lúc này, người mất năng lực hành vi dân sự không được ghi tên vào danh sách cử tri và không được thực hiện quyền bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Tuy nhiên, khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự. Lúc này, nếu đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ được cơ quan có thẩm quyền xác nhận thông tin không còn trong tình trạng mất năng lực hành vi dân sự thì được bổ sung vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri.
4. Tại sao pháp luật lại hạn chế các trường hợp không được tham gia bầu cử?
Quyền bầu cử là quyền quan trọng trong việc xác định thành phần bộ máy chính quyền. Do đó, việc hạn chế các trường hợp không được tham gia bầu cử nhằm mục đích để vừa đảm bảo quyền của công dân vừa đảm bảo chất lượng của lá phiếu. Việc hạn chế các trường hợp không được tham gia bầu cử là phù hợp, bởi những lý do sau:
- Trường hợp người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không được tham gia bầu cử: Pháp luật hạn chế người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật tham gia bầu cử là để đảm bảo thực hiện hình phạt theo quy định của pháp luật. Vì thực hiện hành vi vi phạm pháp luật mà công dân bị tước quyền bầu cử, do đó công dân không thể tham gia bỏ phiếu là lẽ tất yếu.
- Trường hợp người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo không được thực hiện quyền bầu cử: Pháp luật hạn chế những đối tượng này không được tham gia bầu cử là bởi những người này đang bị tước quyền tự do, bên cạnh đó, việc tổ chức bỏ phiếu ở các trại giam cũng gặp nhiều khó khăn trong việc bảo đảm an toàn cho những phạm nhân.
- Trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự không được tham gia bầu cử: Pháp luật hạn chế quyền bầu cử của người mất năng lực hành vi dân sự là vì đây là những người không có đầy đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình. Do đó, để đảm bảo chất lượng của lá phiếu thì việc quy định những người này không được ghi tên vào danh sách cử tri là hoàn toàn hợp lý. Ở đây cần phân biệt người bị mất năng lực hành vi dân sự và người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, vì đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì bản thân họ vẫn nhận thức được hành vi của mình (chỉ bị hạn chế do nghiệm ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình, có quyết định của Tòa án tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dân sự) khác với người mất năng lực hoàn toàn không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình. Do đó, luật vẫn quy định cho những người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vẫn được ghi tên vào danh sách cử tri, được thực hiện quyền bầu cử của công dân.
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: Tại sao luật hạn chế các trường hợp không được tham gia bầu cử? Mọi thắc mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua hotline: 1900.6162 để được hỗ trợ kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn!