1. Xu hướng làm hoa bằng tiền giấy, tiền polime
Hiện nay, vào các dịp lễ Tình nhân 14/02, Quốc tế Phụ nữ 08/3 hay ngày 20/10, nhiều hộ kinh doanh và cửa hàng kinh doanh hoa có ý tưởng sử dụng tiền để làm hoa phục vụ khách hàng. Theo đó, các bó hoa này được làm từ các đồng có mệnh giá từ nhỏ đến lớn với chất liệu bằng tiền giấy hoặc tiền Polime. Khi những tờ tiền mới được dán băng dính vào que và cuộn tròn lại để tập hợp thành “bó hoa tiền” vừa đẹp mắt, vừa có giá trị kinh tế, đã khiến nhiều khách hàng ưa chuộng bởi giá trị của chúng. Tuy nhiên, trong quá trình kết hoa nếu dùng vật nhọn và các chất bám dính cao như keo dán sắt sẽ dễ dẫn đến rách, biến dạng và gây khó khăn trong việc lưu thông tiền tệ tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật.Nhiều người cho rằng, việc làm hoa từ tiền thật vừa đẹp lại vừa có giá trị kinh tế, do đó việc tặng hoa từ tiền thật vào các Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, ngày sinh nhật… trở nên khá phổ biến. Các bó hoa được làm từ các đồng tiền có mệnh giá từ nhỏ đến lớn với chất liệu bằng tiền giấy hoặc tiền polime.
![]() | ![]() |
(Làm hoa hồng bằng tiền thật để bán có phạm luật không - hình minh họa)
Tuy nhiên, trong quá trình kết hoa nếu dùng vật nhọn và các chất bám dính cao như keo dán sắt sẽ dễ dẫn đến rách, biến dạng và gây khó khăn trong việc lưu thông tiền tệ. Với những người làm hoa bằng tiền để bán, họ cũng chia sẻ rằng, nếu muốn các tờ tiền dính tốt hơn, để lâu hơn phải sử dụng keo dính có độ bền chặt nhưng khi gỡ ra thì tiền lại dễ bị rách. Dù việc làm bó hoa tiền từ chính tiền của bản thân, cộng với việc nếu chẳng may có rách cũng chỉ là ngoài ý muốn, thế nhưng ít người biết rằng, việc làm đó đã vi phạm vào điều mà pháp luật đã quy định.
2. Quyền và trách nhiệm của cá nhân, tổ chức trong việc bảo vệ tiền Việt Nam
Căn cứ Điều 4 Quyết định 130/2003/QĐ-TTg quy định về quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân như sau:
Quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân
- Bảo quản tiền Việt Nam trong quá trình quản lý, sử dụng.
- Yêu cầu cơ quan chức năng giám định tiền Việt Nam theo quy định tại Điều 6 Quyết định này.
- Kịp thời thông báo cơ quan công an hoặc bộ đội biên phòng, hải quan nơi gần nhất về các hành vi vi phạm quy định tại Điều 3 Quyết định này.
- Cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân có tiền giả phải kịp thời giao nộp cho cơ quan công an, Ngân hàng Nhà nước, bộ đội biên phòng hoặc cơ quan hải quan nơi thuận tiện nhất.
- Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước và tổ chức khác có hoạt động ngân hàng, cơ quan hải quan, bộ đội biên phòng khi phát hiện tiền giả phải tiến hành lập biên bản thu giữ, phát hiện tiền nghi giả phải lập biên bản tạm thu giữ và kịp thời thông báo cơ quan công an nơi gần nhất.
Theo đó, quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ tiền Việt Nam được quy định cụ thể tại Điều 4 nêu trên. Trong đó có trách nhiệm bảo quản tiền Việt Nam trong quá trình quản lý, sử dụng.
3. Những hành vi bị nghiêm cấm
Theo Điều 3 Quyết định 130/2003/QĐ-TTg quy định về những hành vi bị nghiêm cấm như sau:
Những hành vi bị nghiêm cấm
- Làm tiền giả, vận chuyển, tàng trữ, lưu hành, mua, bán tiền giả.
- Hủy hoại tiền Việt Nam bằng bất kỳ hình thức nào.
- Sao chụp tiền Việt Nam với bất kỳ mục đích nào không có sự chấp thuận trước bằng văn bản của Ngân hàng Nhà nước.
- Từ chối nhận, lưu hành đồng tiền do Ngân hàng Nhà nước phát hành trong lãnh thổ Việt Nam.
4. Xử phạt vi phạm hành chính
Dưới góc độ pháp lý, tại khoản 2 Điều 3 Quyết định số 130/2003 của Thủ tướng về bảo vệ tiền Việt Nam có nhấn mạnh, nghiêm cấm hành vi huỷ hoại tiền Việt Nam bằng bất kỳ hình thức nào.Theo đó, có thể hiểu hành vi hủy hoại tiền là các hành vi được thực hiện một cách cố ý như: Xé, cắt, đốt, vò nát, tẩy xóa tiền... Như vậy, pháp luật hiện hành không có quy định cấm làm hoa bằng tiền Việt Nam. Tuy nhiên, nếu việc làm hoa bằng tiền Việt Nam (cắt, xé, dán,...) dẫn đến việc tiền Việt Nam bị hủy hoại thì đây là hành vi vi phạm pháp luật. Tại khoản 3 Điều 31 Nghị định 88/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, đối với hành vi phá hoại, hủy hoại tiền Việt Nam trái pháp luật sẽ bị phạt tiền từ 10 - 15 triệu đồng. Bên cạnh đó, về hình thức xử phạt bổ sung có thể bị tịch thu toàn bộ tang vật, phương tiện theo quy định.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 31 Nghị định 88/2019 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, vi phạm quy định về bảo vệ tiền Việt Nam bị xử lý như sau: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi phá hoại, hủy hoại tiền Việt Nam trái pháp luật.
Bên cạnh đó, người vi phạm còn chịu hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu toàn bộ tang vật, phương tiện thực hiện hành vi vi phạm , giao cơ quan có thẩm quyền xử lý.
5. Có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp cụ thể
Trường hợp cá nhân có hành vi hủy hoạch hoặc làm hư hỏng tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
+/ Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng – 03 năm
+/ Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: Có tổ chức hoặc gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 50 triệu đồng – dưới 200 triệu đồng.
+/ Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm – 10 năm.
+/ Phạt tù từ 10 năm đến 20 năm: Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên.
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
- Dấu hiệu chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 14 tuổi trở lên nếu hành vi phạm tội thuộc các khoản 3 và 4 của điều luật hoặc là người từ đủ 16 tuổi trở lên nếu hành vi phạm tội thuộc các khoản 1 và 2 của điều luật.
- Dấu hiệu hành vỉ khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan được quy định là hành vi huỷ hoại tài sản hoặc hành vi làm hư hỏng tài sản. Trong đó, hành vi huỷ hoại được hiểu là hành vi làm mất giá trị sử dụng của tài sản. Hành vi này có thể là hành động (như đập phá, đốt...) hoặc không hành động (như không tắt máy khi có sự cố dẫn đến máy bị phá hỏng hoàn toàn...). Hành vi huỷ hoại có thể được thực hiện bằng phương pháp và với phương tiện hoặc công cụ phạm tội khác nhau. Người phạm tội có thể đập phá tài sản bằng tay không hoặc có công cụ phạm tội. Họ có thể huỷ hoại tài sản bằng thuốc nổ hoặc bằng hoá chất hoặc bằng cách đốt cháy. Hình thức hành vi phạm tội (hành động hay không hành động) cũng như phương pháp, phương tiện hay công cụ phạm tội không có ý nghĩa về mặt định tội mà chỉ có thể có ý nghĩa đối với việc quyết định hình phạt. Cụ thể, một số phương pháp hay phương tiện phạm tội được quy định là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng của tội này. Hành vi làm hư hỏng tài sản được hiếu là hành vi làm giảm giá trị sử dụng của tài sản và giá trị sử dụng ban đầu của tài sản có thể khôi phục lại được.
Khi xác định hành vi khách quan của tội phạm này cần chú ý: Do tính chất đặc biệt nên một số loại tài sản (công trình quan trọng về an ninh quốc gia, tài nguyên rừng...) không được coi là đối tượng của hành vi huỷ hoại hoặc làm hư hỏng trong nhỏm tội xâm phạm sở hữu. Hành vi huỷ hoại hoặc làm hư hỏng các tài sản có tính đặc biệt này cấu thành tội phạm tương ứng trong các chương khác của BLHS.
- Dấu hiệu hậu quả của tội phạm
Điều luật quy định hậu quả của tội phạm là tài sản bị huỷ hoại hoặc bị làm hư hỏng. Do vậy, tội phạm được coi là hoàn thành khi hậu quả đã xảy ra. Khác với tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản và tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, dấu hiệu hậu quả ở tội phạm này không đòi hỏi phải là thiệt hại nghiêm trọng. Điều luật đòi hỏi hậu quả của tội phạm trong trường họp bình thường là thiệt hại từ 02 triệu đồng trở lên. Trong các trường hợp khác, hậu quả của tội phạm không đòi hỏi phải ở mức độ gây thiệt hại như vậy. Các trường họp đó là:
+ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác;
+ Đã bị kết án về tội này và chưa được xoá án tích;
+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
+ Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
+ Tài sản là di vật, cổ vật.
Như vậy, trong những trường hợp này, hành vi huỷ hoại hoặc
làm hư hỏng tài sản đều có thể thoả mãn dấu hiệu hậu quả của tội này mà không phụ thuộc vào thiệt hại đã gây ra lớn hay nhỏ. Tuy nhiên, nếu thiệt hại gây ra quá nhỏ và do vậy dẫn đến tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi không đáng kể thì hành vi huỷ hoại hoặc làm hư hỏng không bị coi là tội phạm (khoản 2 Điều 8 BLHS). cần phân biệt trường hợp này với trường họp phạm tội chưa đạt là trường hợp vì nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội nên hành vi chưa gây ra thiệt hại hoặc mới chỉ gây ra thiệt hại không đáng kể.
+/ Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Khung hình phạt này được áp dụng cho trường hợp phạm tội mà tài sản bị hủy hoại hoặc làm hư hỏng trị giá dưới 50 triệu đồng.
+/ Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Có tổ chức: Đây là trường họp phạm tội được thực hiện dưới hình thức đồng phạm mà trong đó có sự câu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm.
- Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng: Đây là trường hợp tài sản bị hủy hoại hoặc làm hư hỏng trị giá từ 50 triệu đồng trở lên nhưng dưới mức 200 triệu đồng (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ hai được quy định tại khoản 3 của điều luật).
- Tài sản là bảo vật quốc gia: Đây là trường họp phạm tội mà đối tượng bị hủy hoại hoặc làm hư hỏng là tài sản đặc biệt - là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học” (Điều 4 Luật di sản văn hóa).
- Dùng chất nguy hiểm về cháy, nổ hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác: Đây là trường hợp phạm tội mà phương tiện, thủ đoạn phạm tội có tính chất nguy hiểm hơn hẳn so với những phương tiện, thủ đoạn phạm tội bình thường khác, có thể là nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ hoặc có thể gây ra thiệt hại rất lớn về tài sản vượt ra ngoài khả năng kiểm soát của người phạm tội. Phương tiện phạm tội đó có thể là chất nổ (bom, mìn...) hay chất cháy (xăng, dầu hay các hoá chất dễ cháy khác...). Thủ đoạn phạm tội nguy hiểm có thể là thủ đoạn dùng chất độc để giết hại gia súc hay dùng thủ đoạn chập điện để gây cháy hay để phá hủy máy móc;
- Để che giấu tội phạm khác: Đây là trường họp phạm tội mà chủ thể đã phạm tội khác và để che giấu tội phạm này nên đã có hành vi huỷ hoại tài sản. Ví dụ: Để che giấu hành vi tham ô của mình, thủ kho đã có hành vi đốt kho.
- Vì lý do công vụ của người bị hại: Đây là trường hợp phạm tội để trả thù người đã thi hành công vụ hoặc để đe doạ, ngăn cản người thi hành công vụ;
- Tái phạm nguy hiểm: Đây là trường hợp phạm tội thoả mãn các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 53 BLHS.
+/ Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ 05 năm đến 10 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.
+/ Khoản 4 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ ba có mức phạt tù từ 10 năm đến 20 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 500 triệu đồng trở lên.
+/ Khoản 5 của điều luật quy định khung hình phạt bổ sung (có thể được áp dụng) là: Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Khi xác định hậu quả của tội phạm đòi hỏi phải xác định hành vi đã thực hiện của chủ thể có QHNQ với hậu quả này. Người có hành vi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về thiệt hại tài sản bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng nếu giữa thiệt hại này và hành vi của họ có QHNQ vớỉ nhau, nghĩa là thiệt hại đó phải do chính hành vi của họ gây ra.
- Dấu hiệu lỗi của chủ thể: Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi cố ý, có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Họ biết hành vi của mình có khả năng huỷ hoại hoặc làm hư hỏng tài sản nhưng đã thực hiện hành vi đó vì mong muốn tài sản bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng hoặc vì đã chấp nhận thiệt hại đó xảy ra để đạt được mục đích khác của mình.
Trên đây là nội dung tư vấn về "làm hoa hồng bằng tiền thật để bán có phạm luật không" trường hợp còn điều gì vướng mắc, vui lòng liên hệ qua tổng đài tư vấn 19006162 hoặc gửi qua email lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Trân trọng!

.jpg)