Vào những năm đầu của thế kỉ 20, hầu hết các phương tiện vận tải thủy vẫn còn kết cấu khá đơn giản, không chuyên dụng (trừ tàu chở dầu-tank vessels đã xuất hiện vào những năm 1880), tức là tất cả các loại hàng hoá đều được chứa chung lẫn nhau trong hầm tàu hoặc trên boong. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển không ngừng của ngành hàng hải, tàu chở hàng ngày càng hiện đại hiện đại. Mỗi loại tàu được thiết kế và xây dựng những khả năng chứa loại hàng chuyên biệt. Và tên của những loại tàu này cũng phản ánh loại hàng hoá chuyên biệt mà tàu đó có khả năng chứa.

Trong vận tải đường biển xuất hiện rất nhiều loại tàu vận chuyển phù hợp với từng hàng hóa khác nhau. Thế nhưng từ xưa cho đến nay, tàu chở hàng rời vẫn là một loại phương tiện vận chuyển phổ biến, đáp ứng được đa dạng các loại hàng hóa với sức chở lớn.

 

1. Khái niệm hàng rời

Hàng rời có thể hiểu là hàng chở xô, thường không có đóng thùng, đóng bao hay đóng gói. Những sản phẩm này sẽ được trực tiệp chứa thông qua các khoang hàng của xe tải, tàu hỏa hay tàu thủy. Hàng rời được phân thành hai nhóm chính:

- Hàng rời rắn với sự kết hợp bởi các phần tử nhỏ, hạt nhỏ, hay còn là những loại hàng khô, được chở với khối lượng, số lượng lớn trên tàu như lương thực, café, bột mì, nông sản, vật liệu, đá, đất than, quặng, hạt rời,…

- Hàng rời lỏng với các mặt hàng như xăng dầu, hoá chất, nước, dầu thô,… được vận chuyển trên các tanker, tàu thuỷ, tàu hoả, đảm bảo an toàn.

 

2. Khái niệm tàu chở hàng rời/hàng xá

Tàu chở hàng rời là loại tàu có công suất hoạt động rất lớn trong việc vận chuyển hàng hóa trên thế giới, nó có thể vận chuyển những hàng hóa ở dạng thô, khô ( bulk cargo) như than đá, quặng sắt, ngũ cốc, lưu huỳnh, phế liệu không có đóng thùng hay bao kiện gì cả. Những loại hàng này sẽ được chứa trực tiếp vào các khoang hàng chống thấm nước của tàu.

Tàu chở hàng xá được hiểu là hàng chở rời, tất cả các loại hàng Bulk không đường đóng kiện hay đóng thúng.

Tàu chuyên dụng để chở hàng rời là loại tàu một boong, có cấu trúc vững chắc, có két hông và két treo ở hai bên mạn hầm hàng để làm giảm mặt thoáng hầm hàng và dễ điều chỉnh trọng tâm tàu khi cần thiết. Tàu có miệng hầm rộng rãi, thuận lợi cho việc xếp dỡ hàng. Hầm hàng được gia cường chắc chắn chịu được sự va đập của hàng hóa và thiết bị khi làm hàng.

 

3. So sánh tàu chở hàng rời và tàu chở hàng xá

- Điểm chung của tàu hàng xá và tàu hàng rời

Tàu hàng xá và tàu hàng rời cả hai loại tàu hàng này đều khá phổ biến trong vận tải biển, đồng thời tàu hàng xá cũng là một loại tàu chở hàng rời. Hàng ngày, có rất nhiều tàu hàng xá và hàng rời cập cảng, hàng hoá chúng vận chuyển thường không được đóng kiện hay đóng thùng.

- Điểm khác nhau giữa tàu hàng xá và tàu hàng rời

Bộ luật quốc tế về vận chuyển hàng rời rắn bằng đường biển (IMSBC Code) đã chia hàng rời ra 3 nhóm cơ bản:

– Nhóm A là nhóm hàng có thể bị hóa lỏng trong quá trình vận chuyển.

– Nhóm B là nhóm hàng có thể tự cháy, gây nổ, ăn mòn, thải khí độc hại, thải khí CO2, hút Ô- xy…

– Nhóm C là nhóm hàng hóa khác không có thuộc tính như hai nhóm A, B nêu trên

* Hàng hóa chủ yếu chuyên chở của tàu hàng rời thường là hàng thể rắn thường gặp như: quặng sắt, đồng, niken, than, cát….Đặc tính chung của hàng hóa được chở bời hàng hàng rời là bụi bẩn và có tỷ trọng lớn hơn so với hàng thông thường. Hàng rời thường dễ bị xô dịch (Shifting) trong quá trình xếp-dỡ hay vận chuyển trên biển.

* Hàng hóa chuyên chở chủ yếu của tàu hàng xá là các loại mặt hàng hàng nông sản hơn, mặt hàng này chuyên chở không mang lại nhiều lợi nhuận hơn các mặt hàng khác chính vì vậy mặt hàng này rất hay thường xuyên bị ứ đọng, bốc dỡ chậm hơn.

 

4. Phân loại tàu chở hàng rời

- Tàu chở hàng rời có cần trục: phù hợp với việc vận chuyển và xếp dỡ hàng hóa ở những cảng thiếu trang bị xếp dỡ hàng hóa mạn trái. có sức chứa gần 25000 DWT, có tàu lên tới 75000 DWT. Hay tàu sức trung bình sử dụng loại 75000 DWT và có tàu lên tới 200.000 DWT.

- Tàu chở hàng rời không có hộp số: kích thước và sức chứa của loại hàng này dao động từ 20.000 DWT đến 200.000 DWT.

 

5. Sức chứa của tàu chở hàng rời

Sức chứa của những tàu hàng rời ở khoảng 25000DWT( Handysize), đối với những tàu có sức chứa trung bình ( Panamax- tàu được thiết kế theo tiêu chuẩn để có thể đi qua kênh đào Panama) vào khoảng 75000DWT, có những tàu với sức chứa “khổng lồ” lên đến 200000DWT( thậm chí một số tàu còn lớn hơn nhiều ).

Đối với loại tàu “Capesize”, có một vài sự phân loại chẳng hạn như:”Kamsamax”( là loại tàu lớn nhất có thể vào các cảng của Kamsar, Equatorial Guinea, sức chứa khoảng 75000DWT), “Newastlemax” ( là loại tàu dài nhất có thể vào được cảng của Newcastle, Australia, sức chứa khoảng 185000DWT), và “Setouchmax”( là loại tàu dài nhất có thể điều hướng đến vùng biển Setouch, Nhật Bản với sức chứa vào khoảng 203000DWT). Với nhu cầu vận chuyển hàng hóa ngày càng cao, một số con tàu VLCC( Very Large Crude Carrier-tàu lớn vận chuyển nguyên vật liệu thô đang được chuyển đổi sang những con tàu VLOC ( Very Large Ore Carrier- Tàu kích thước lớn vận chuyển quặng) với sức chứa vượt quá 200000DWT. Do việc vân chuyển hàng hóa nặng với tải trọng lớn, tuối thọ của những con tàu này trên thực tế nhỏ hơn so với thiết kế ban đầu.

 

6. Kích thước của một số loại tàu chở hàng rời

  • Handysize: 20000DWT- 40000DWT
  • Handymax: 40000DWT- 50000DWT
  • Supramax: 50000DWT- 60000DWT
  • Panamax: 60000DWT- 80000DWT
  • Post-Panamax: (Baby capers) < 125000DWT
  • Capesize: 125000- 200000DWT

 

7. Hệ thống tàu chở hàng rời nội địa ở Việt Nam

Ngày nay, vì đáp ứng tốt nhu cầu chuyển chở hàng rời nội địa nên hệ thống tàu tại Việt Nam được nhiều người sử dụng. Nước ta có hơn 100 tàu chở hàng rời nhưng chưa trang bị tàu trọng tải lớn, khiến các đơn vị gặp khó khăn khi vận chuyển những chuyến hàng khối lượng khổng lồ. Tuy nhiên, hệ thống tàu đang dần trẻ hóa, độ tuổi trung bình thường ở mức 10 tuổi với số lượng tàu đa dạng kích thước.

Nhờ hệ thống tàu hàng rời có dấu hiệu trẻ hóa trong thời gian gần đây, xu hướng sử dụng phương thức vận chuyển hàng rời nội địa gia tăng nhanh chóng. Các đơn vị cung cấp dịch vụ đưa ra những mức giá cạnh tranh tốt, giúp nhiều doạnh nghiệp tiết kiệm chi phí, an tâm khi hàng hóa được chuyên chở an toàn, đảm bảo chất lượng.

 

8. Bảo hiểm hàng hóa chở xá

Hàng hóa chuyên chở có những đặc thù nhất định nên cần phải dùng loại tàu khác biệt và đó là tàu chở hàng xá. Tàu chở hàng rời là tàu chở các loại hàng ở dạng thô, khô như than, gạo, bột mì, thức ăn gia súc, đường, xi măng, cà phê, phân bón… Các hàng hóa này không có đóng thùng hay bao gói và được chứa trực tiếp vào các khoang hàng có khả năng chống thấm nước

Tính chất đặc thù của loại hàng này rất dễ sinh bụi, hư hỏng trong quá trình vận chuyển, hao hụt khối lượng trong quá trình vận chuyển và dễ bị dịch chuyển. Vì vậy khi vận chuyển hàng hóa từ tàu hàng xá bạn cần lưu ý những điểu sau:

– Cần lựa chọn hãng tàu có dịch vụ vận tải tốt đảm bảo cho bạn trong quá trình vận chuyển hư hao, tổn thất là thấp nhất, có quá trình vận chuyển hàng hóa, quy trình đầy đủ.

– Nên lựa chọn những công ty vận chuyển lâu năm có nhiều kinh nghiệm trong việc vận chuyển, ngoài ra bạn cần tìm hiểu về các chi phí có thể phát sinh khi vận chuyển. Tìm hiểu kĩ hợp đồng và các điều khoản kí kết trước khi vận chuyển hàng. Đặc biệt bạn cần lưu ý đến các điều khoản bồi thường nếu hàng hóa của bạn bị mất mát hư hao trong quá trình vận chuyển, điều này có thể thỏa thuận với bên vận chuyển để có một tỉ lệ hợp lý.

– Để bảo đảm an toàn cho lô hàng, có thể mua thêm bảo hiểm cho hàng hóa của bạn khi vận chuyển hàng bằng tàu hàng xá. Điều này giúp cho bạn hạn chế được thiệt hại về sau và giảm tổn thất về mức thấp nhất có thể.

 

9. Bảo hiểm hàng hóa chở xá

Bảo hiểm hàng hóa chở xá là loại hình bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu được Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) nhận bảo hiểm cho các đơn vị nhập hàng trực tiếp hoặc nhập ủy nhiệm. Do tính chất đặc thù là mức độ hao hụt, tổn thất cao nên thường tất cả các lô hàng xá đều được các chủ hàng rất quan tâm đến bảo hiểm để phòng trừ rủi ro và hạn chế tổn thất. Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex nhận bảo hiểm cho loại hàng hóa này theo điều kiện A I.C.C 1/1/1982 có mở rộng thiếu hụt trọng lượng khi cân tại cảng dỡ hàng cụ thể như sau:

- Phạm vi bản hiểm

Hợp đồng bảo hiểm được ký kết theo một trong những điều kiện sau:

+ Điều kiện A: Theo điều kiện này, Người bảo hiểm chịu trách nhiệm về mọi rủi ro gây ra mất mát, hư hỏng cho hàng hoá được bảo hiểm, trừ những trường hợp đã quy định loại trừ ở chương III dưới đây.

+ Điều kiện B: Trừ những trường hợp đã quy định loại trừ ở chương III dưới đây, theo điều kiện này, Người bảo hiểm chịu trách nhiệm đối với:

Những mất mát, hư hỏng xảy ra cho hàng hoá được bảo hiểm có thể quy hợp lý cho các nguyên nhân sau: Cháy hoặc nổ;Tàu hay sà lan bị mắc cạn, đắm hoặc lật úp; Tàu đâm va nhau hoặc tàu, sà lan hay phương tiện vận chuyển đâm va phải bất kỳ vật thể gì bên ngoài không kể nước; Dỡ hàng tại một cảng nơi tàu gặp nạn; Phương tiện vận chuyển đường bộ bị lật đổ hoặc trật bánh; Động đất, núi lưả phun hoặc sét đánh;

Những mất mát hư hỏng xảy ra đối với hàng hoá được bảo hiểm do các nguyên nhân sau: Hy sinh tổn thất chung; Ném hàng khỏi tàu hoặc nước cuốn khỏi tàu; Nước biển, nước hồ hay nước sông chảy vào tàu, sà lan, hầm hàng, phương tiện vận chuyển, công- ten-nơ hoặc nơi chứa hàng; Tổn thất toàn bộ của bất kỳ kiện hàng nào rơi khỏi tàu hoặc rơi trong khi đang xếp hàng lên hay dỡ hàng khỏi tàu hoặc sà lan; Hàng hoá được bảo hiểm bị mất do tàu hạơc phương tiện chở hàng mất tích.

+ Điều kiện C: Trừ những trường hợp quy định loại trừ ở chương III dưới đay, theo điều kiện này Người được bảo hiểm chịu trách nhiệm đối với:

Những mất mát, hư hỏng xảy ra cho hàng hoá được bảo hiểm có thể quy hợp lý cho các nguyên nhân sau: Cháy hoặc nổ; Tàu hay sà lan bị mắc cạn, đắm hoặc lật úp; Tàu đâm va nhau hạơc tàu, sà lan hay phương tiện vận chuyển đâm va phải bất kỳ vật thể gì bên ngoài không kể nước; Dỡ hàng tạo một cảng nơi tàu gặp nạn; Phương tiện vận chuyển đường bộ bị lật, hoặc trật bánh.

Những mất mát, hư hỏng xảy ra cho hàng hoá được bảo hiểm do các nguyên nhân sau gây ra: Hy sinh tổn thất chung; Ném hàng khỏi tàu;

Hàng hóa được bảo hiểm bị mất do tàu hoặc phương tiện chở hàng mất tích.

- Trong mọi trường hợp Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với:

Những mất mát, hư hỏng hay chi phí được quy là do việc làm xấu cố ý của Người được bảo hiểm.

Những mất mát, hư hỏng hay chi phí có nguyên nhân trực tiếp do chậm trễ, dù chậm trễ xảy ra là do một rủi ro được bảo hiểm (trừ những chi phí được bồi thường theo điều 2/2a quy tắc này).

Những mất mát, hư hỏng hay chi phí phát sinh do tàu hoặc sà lan không đủ khả năng đi biển do tàu, sà lan, phương tiện vận chuyển hoặc công-ten-nơ không thích hợp cho việc chuyên chở hàng an toàn nếu Người được bảo hiểm hay những người làm công cho họ được biết riêng về trạng thái không đủ khả năng đi biển hay không thích hợp đó vào thời gian bốc xếp hàng hoá.

Những mất mát, hư hỏng hay chi phí phát sinh do việc đóng gói hoặc chuẩn bị hàng hoá được bảo hiểm không đầy đủ hoặc không thích hợp và do việc xếp hàng hỏng lên tàu.

 

Trân trọng!