1. Tàu thuyền công vụ nước ngoài là gì?

Phương tiện thủy công vụ được mô tả trong Khoản 5 của Điều 3 trong Luật Biển Việt Nam 2012 như sau: Đây là các phương tiện hoạt động trên mặt nước hoặc dưới mặt nước, bao gồm tàu, thuyền và các phương tiện khác, có hoặc không có động cơ, được sử dụng chủ yếu để thực hiện các nhiệm vụ công vụ của Nhà nước mà không có mục đích thương mại.

Tàu thuyền công vụ nước ngoài là các phương tiện thủy, bao gồm tàu, thuyền, và các phương tiện khác có hoặc không có động cơ, được sử dụng chủ yếu để thực hiện các nhiệm vụ công vụ của Nhà nước mà không vì mục đích thương mại. Các nhiệm vụ này có thể bao gồm tuần tra hải lý, kiểm soát biên giới, giám sát hoạt động cá ngừ, nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn, và các hoạt động khác liên quan đến an ninh biển. Những tàu thuyền công vụ này thường thuộc sở hữu hoặc được vận hành bởi chính phủ của một quốc gia và được sử dụng để thực hiện các chức năng quan trọng liên quan đến an ninh, quản lý tài nguyên biển, và duy trì trật tự trên biển. Quy định và điều kiện hoạt động của tàu thuyền công vụ nước ngoài thường được quy định bởi pháp luật nước sở tại và có thể được điều chỉnh thông qua các thỏa thuận quốc tế.

Điều này thường áp dụng cho các tàu thuyền hoạt động dưới sự quản lý và kiểm soát của cơ quan hoặc tổ chức công quyền. Việc hạn chế tàu thuyền công vụ của quốc gia ngoại chỉ được phép nhập cảnh vào khu vực nội thủy của Việt Nam và neo đậu tại các điểm quy định có thể phản ánh mục tiêu của Việt Nam trong việc duy trì an ninh, quốc phòng, và quản lý biển. Những biện pháp như vậy có thể được thiết lập để kiểm soát và giám sát các hoạt động trên biển một cách cẩn thận, đặc biệt là khi liên quan đến các tàu thuyền công vụ của quốc gia ngoại.

2. Quy định mà tàu thuyền công vụ của nước ngoài khi ở trong vùng biển của Việt Nam 

Tàu thuyền công vụ của các quốc gia ngoài khi hoạt động trong nội thủy của Việt Nam phải tuân thủ các quy định theo Khoản 2 của Điều 27 Luật Biển Việt Nam 2012 như sau: Tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của quốc gia ngoài chỉ được nhập vào khu vực nội thủy, neo đậu tại các cảng, bến hoặc nơi đậu trong nội thuỷ, hoặc tại các cảng, bến hoặc nơi đậu của Việt Nam ở ngoài khu vực nội thủy Việt Nam theo lời mời của Chính phủ Việt Nam hoặc dựa trên thỏa thuận giữa các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và quốc gia mà tàu mang theo cờ. Trong khi tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của quốc gia ngoài đang ở trong khu vực nội thủy, cảng, bến hoặc nơi đậu trong nội thuỷ, hoặc tại các cảng, bến hoặc nơi đậu của Việt Nam ngoài khu vực nội thủy, chúng phải tuân thủ đúng các quy định của Luật Biển Việt Nam 2012 cũng như các quy định pháp luật Việt Nam khác liên quan. Trường hợp có điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác, tàu phải hoạt động theo quy định đó và phải thực hiện đúng lời mời từ Chính phủ Việt Nam hoặc thỏa thuận với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

Như vậy, theo quy định, tàu thuyền công vụ của quốc gia ngoại trừ chỉ được phép nhập cảnh vào khu vực nội thủy của Việt Nam và neo đậu tại một công trình cảng, bến, hoặc vị trí quy định trong khu vực nội thủy hoặc công trình cảng, bến của Việt Nam theo lời mời của Chính phủ Việt Nam hoặc theo thỏa thuận giữa các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam với quốc gia mà tàu mang cờ. Các tàu thuyền công vụ của quốc gia ngoại, khi hoạt động trong khu vực nội thủy của Việt Nam, phải tuân thủ đúng quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan. Điều này không áp dụng trong trường hợp có điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và có quy định khác. Ngoài ra, các tàu thuyền này cũng phải hoạt động một cách phù hợp với lời mời của Chính phủ Việt Nam hoặc theo thỏa thuận với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

Quy định về việc tàu thuyền công vụ của quốc gia ngoại chỉ được phép nhập cảnh vào khu vực nội thủy của Việt Nam và neo đậu tại một công trình cảng, bến, hoặc vị trí quy định trong khu vực nội thủy hoặc công trình cảng, bến của Việt Nam theo lời mời của Chính phủ Việt Nam hoặc theo thỏa thuận giữa các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam với quốc gia mà tàu mang cờ có thể liên quan đến quy định về an ninh, quốc phòng, hay quản lý biển. Các quy định như vậy có thể được thiết lập để bảo đảm an ninh quốc gia, kiểm soát hoạt động trên biển, và duy trì trật tự công cộng. Việc giới hạn tàu thuyền công vụ của quốc gia ngoại chỉ vào khu vực nội thủy và các cảng, bến có thể giúp quản lý và kiểm soát những hoạt động này một cách hiệu quả hơn. Đồng thời, việc yêu cầu lời mời từ Chính phủ Việt Nam hoặc thỏa thuận giữa các cơ quan có thẩm quyền có thể tạo ra cơ hội cho sự đàm phán và hợp tác giữa quốc gia ngoại và Việt Nam trong việc quản lý và sử dụng vùng biển một cách bền vững và an toàn. Những biện pháp như vậy thường phản ánh cam kết của các quốc gia trong việc duy trì quan hệ tốt và hợp tác chặt chẽ với nhau trong lĩnh vực biển.

3. Tàu thuyền công vụ của nước ngoài hoạt động trong vùng biển Việt Nam vi phạm pháp luật Việt Nam thì quốc gia nào phải chịu trách nhiệm?

Nếu tàu thuyền công vụ của quốc gia ngoài hoạt động trong vùng biển Việt Nam vi phạm pháp luật của Việt Nam, trách nhiệm của quốc gia đó được quy định tại Điều 28 của Luật Biển Việt Nam 2012 như sau: Tàu quân sự của quốc gia ngoài khi thực hiện hoạt động trong vùng biển Việt Nam và có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam sẽ phải đối mặt với quyền yêu cầu từ lực lượng tuần tra và kiểm soát trên biển của Việt Nam. Theo đó, nếu tàu thuyền này đang ở trong lãnh hải Việt Nam, lực lượng nêu trên có quyền yêu cầu tàu đó ngừng ngay hành vi vi phạm và rời khỏi lãnh hải Việt Nam ngay lập tức. Tàu thuyền vi phạm cần phải tuân thủ mọi yêu cầu và mệnh lệnh của lực lượng tuần tra và kiểm soát trên biển của Việt Nam. Trong trường hợp tàu quân sự hoặc tàu thuyền công vụ của quốc gia ngoài vi phạm pháp luật của Việt Nam hoặc các quy định quốc tế có liên quan khi hoạt động trong vùng biển Việt Nam, quốc gia sở hữu tàu (mang cờ) phải chịu trách nhiệm đối với mọi tổn thất hoặc thiệt hại mà tàu thuyền đó gây ra cho Việt Nam.

Theo quy định, trong trường hợp tàu thuyền công vụ của quốc gia ngoại thực hiện hoạt động trong vùng biển của Việt Nam và có hành vi vi phạm pháp luật của Việt Nam hoặc pháp luật quốc tế có liên quan, quốc gia mà tàu đó mang cờ phải chịu trách nhiệm đối với mọi tổn thất hoặc thiệt hại mà tàu thuyền đó gây ra cho Việt Nam. Bên cạnh đó, trong ngữ cảnh quốc tế và theo nguyên tắc quốc tế, quốc gia mang cờ của một tàu thuyền thường phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi của tàu đó ở cả trong và ngoài vùng biển của nước mang cờ. Nguyên tắc này được thể hiện trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS). Nếu một tàu thuyền công vụ của quốc gia ngoại thực hiện hoạt động trong vùng biển của Việt Nam và có hành vi vi phạm pháp luật của Việt Nam hoặc pháp luật quốc tế có liên quan, quốc gia mà tàu đó mang cờ có thể chịu trách nhiệm về mọi tổn thất hoặc thiệt hại mà tàu thuyền đó gây ra cho Việt Nam.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết Quy định mà tàu thuyền công vụ của nước ngoài phải tuân thủ khi ở trong nội thủy Việt Nam. Nếu có bất cứ thắc mắc nào về vấn đề này hay gặp phải bất kì vấn đề pháp lý nào khác cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp nhanh chóng. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết. Trân trọng!