Tên gọi của pháp nhân có thể kèm theo tên cơ quan quản lý cấp trên của pháp nhân và là tên chính thức để pháp nhân tham gia vào các quan hệ pháp luật.

Thành lập, đăng ký pháp nhân

Pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, của một pháp nhân khác hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

1. Pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của cá nhân hoặc tổ chức

Khi cá nhân, tổ chức có sáng kiến thành lập một pháp nhân thì điều kiện trước nhất phải thuộc các tổ chức mà pháp luật không cấm và mục đích thành lập không trái đạo đức xã hội. Các cá nhân, thành viên của tổ chức tự thỏa thuận về tên gọi, lĩnh vực hoạt động, tính chuyên môn, mục đích hoạt động, cơ cấu tổ chức, cơ quan điều hành, quyền và nghĩa vụ của các hội viên, phương thức huy động vốn, sử dụng vốn. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định tính hợp pháp của loại pháp nhân này và cho phép thành lập hay không. Hoạt động của pháp nhân này có thể nhằm mục đích thương mại hoặc phi thương mại như tổ chức từ thiện, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, vui chơi giải trí hoặc dịch vụ hay du lịch. Thành lập pháp nhân theo phương thức này được phê chuẩn theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Pháp nhân được thành lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (trình tự mệnh lệnh)

Pháp nhân được thành lập theo trình tự mệnh lệnh là việc một pháp nhân được thành lập theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Quyết định có thể của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc của cá nhân, tổ chức có thẩm quyền quyết định thành lập một pháp nhân thương mại hoặc phi thương mại. Những người có thẩm quyền xác định trên đây, có thể ủy quyền cho cơ quan cấp dưới thuộc lĩnh vực mình phụ trách ra quyết định thành lập pháp nhân phù hợp theo quy định của pháp luật cũng như chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hoặc cá nhân đó. Những pháp nhân được thành lập theo trình tự mệnh lệnh là các pháp nhân thương mại hoặc phi thương mại. Ví dụ như các trường đại học, cao đẳng sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước cơ quan quản lý nhà nước, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam... được thành lập để hoạt động nghiệp vụ, được quản lý và sử dụng vốn, tài sản của nhà nước, để thực hiện nhiệm vụ chính trị hoặc chuyên môn. Nội dung quyết định thành lập pháp nhân đã xác định rõ tên gọi, quyền hạn, nghĩa vụ, lĩnh vực hoạt động của pháp nhân.

>> Xem thêm:  Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài là gì ?

3. Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Theo quy định của BLHS năm 2015, pháp nhân thương mại phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Chương XI BLHS năm 2015, theo quy định khác của Phần thứ nhất BLHS năm 2015 không trái với quy định của Chương XI BLHS năm 2015.

a. Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại: Điều 75 BLHS năm 2015 quy định pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:

– Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại.

– Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại.

– Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhan thương mại.

– Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 BLHS năm 2015.

Bốn điều kiện quy định pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự mà chúng tôi trình bày ở trên là bốn điều kiện pháp lý bắt buộc phải đủ, thiếu một điều kiện là pháp nhân thương mại không phải chịu trách nhiệm hình sự.

b. Các tội phạm mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự.

>> Xem thêm:  Các loại thương nhân theo quy định của pháp luật thương mại ?

Theo quy định tại Điều 76 BLHS năm 2015, pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự các tội sau đây:

Tội buôn lậu (Điều 188); Tội vận chuyển trái pháp hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 189); Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190); Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191); Tội sản xuát buôn bán hàng giả (Điều 192); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194); Tội sản xuất buốn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi (Điều 195); Tội đầu cơ (Điều 196); Tội trốn thuế (Điều 200); Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 203); Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán (Điều 209); Tội sử dụng thông tin nội bổ để mua bán chứng khoán (Điều 210); Tội thao túng thị trường chứng khoán (Điều 211); Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm (Điều 213); Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động (Điều 216); Tội vi phạm quy định về cạnh tranh (Điều 217); Tội xâm phạm xuyền tác giả, quyền liên quan (Điều 225); Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226); Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên (Điều 227); Tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản (Điều 232); Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã (Điều 234); Tội gây ôi nhiễm môi trường (Điều 235); Tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường (Điều 237); Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông (Điều 238); Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam (Điều 239); Tội hủy hoại nguồn thủy sản (Điều 242); Tội hủy hoại rừng (Điều 244); Tội vi phạm quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 245); Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại (Điều 246); Tội tài trợ khủng bố (Điều 300) và tội rửa tiền (Điều 324).

4. Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Theo quy định tại Điều 33 BLHS năm 2015, hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội có hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Cụ thể:

Hình phạt chính bao gồm:

– Phạt tiền,

– Đình chỉ hoạt động có thời hạn,

– Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn,

Hình phạt bổ sung bao gồm:

– Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định,

>> Xem thêm:  Không có tư cách pháp nhân có được tham gia đấu thầu ?

– Cấm huy động vốn,

– Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.

Đối với mỗi tội phạm mà pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung. Ngoài các hình phạt, trong giải quyết vụ án pháp nhân thương mại phạm tội, Tòa án có thể quyết định áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Điều 82 BLHS năm 2015 đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Cụ thể là:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy đối với:

“Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán đổi chác những thứ ấy mà có hoặc thu lợi bất chính từ việc phạm tội. Vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành ..v..v..”

Khi áp dụng hình phạt đối với pháp nhân thương mại, ngoài việc Tòa án phải căn cứ vào điều luật quy định về “Căn cứ quyết định hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội” còn phải căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà BLHS quy định áp dụng đối với pháp nhân thương mại và đặc biệt là hình phạt mà Tòa án quyết định phải phù hợp với điều luật quy định về hình phạt đó.

Ví dụ 1: Tòa án quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với pháp nhân thương mại, thì mức phạt tiền phạt không được thấp hơn 50.000.000 đồng (năm mươi triệu). Vì Điều 77 BLHS năm 2015 quy định như vậy. Có nghĩa là, mức tiền phạt phải từ năm mươi triệu đồng trở lên.

Ví dụ 2: Tòa án quyết định đình chỉ hoạt động vĩnh viễn đối với pháp nhân thương mại thì quyết định đình chỉ hoạt động vĩnh viễn phảo phù hợp với quy định tại Điều 79 BLHS năm 2015.

Nội dung quy định tại Điều 79 BLHS năm 2015 quy định có hai trường hợp đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Cụ thể như sau:

Trường hợp 1: Quy định tại khoản 1 Điều 79 BLHS năm 2015 như sau: “Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn là chấm dứt hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây ra thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra”. Trường hợp này là đình chỉ hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại đến tính mạng nhiều người, đến sự cố môi trường, an ninh trật tự xã hội mà không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra.

>> Xem thêm:  Địa vị pháp lý của pháp nhân là gì ? Phân tích năng lực chủ thể và hoạt động của pháp nhân ?

Trường hợp 2: Quy định tại khoản 2 Điều 79 BLHS năm 2015 như sau: “Pháp nhân thương mại được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm thì bị đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ hoạt động”. Trường hợp này là đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ hoạt động của Pháp nhân thương mại với căn cứ pháp luật là từ ngày pháp nhân thương mại được thành lập và bắt đầu hoạt động đến ngày bị phát hiện vi phạm tội thì Pháp nhân thương mại đó chỉ thực hiện tội phạm.

Quyết định hình phạt trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm nhiều tội.

Theo quy định tại Điều 86 BLHS năm 2015 thì khi xét xử cùng một lần mà pháp nhân thương mại phạm nhiều tội, Tòa án được quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây:

* Hình phạt chính:

– Nếu hình phạt đối với từng tội cùng là phạt tiền, thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung.

– Hình phạt đối với từng tội là đình chỉ hoạt động có thời hạn đối với từng lĩnh vực cụ thể thì không tổng hợp.

– Hình phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác.

* Hình phạt bổ sung:

– Nếu các hình phạt đối với từng tội cùng loại, thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do BLHS quy định đối với hình phạt đó, riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền phạt bổ sung được cộng lại thành hình phạt chung.

– Nếu các hình phạt đối với từng tội khác nhau, thì pháp nhân thương mại bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên.

>> Xem thêm:  Quốc tịch của pháp nhân là gì ? Pháp nhân nước ngoài là gì ?

BLHS năm 2015 còn quy định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án mà pháp nhân thương mại đã bị kết án.

Quy định về miễn hình phạt, xóa án tích đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

Về miễn hình phạt: Theo quy định tại Điều 88 BLHS năm 2015 thì pháp nhân thương mại phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội đã khắc phục toàn bộ hậu quả và bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

Về xóa án tích: Theo quy định tại Điều 89 BLHS năm 2015, Pháp nhân thương mại bị kết án được đương nhiên xóa án tích trong hai trường hợp sau:

Trường hợp 1: Trong thời hạn hai năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án.

Trường hợp 2: Trong thời hạn hai năm kể từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không có thực hiện hành vi phạm tội mới.

Thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với pháp nhân thương mại là năm năm (Điều 60 BLHS năm 2015 quy định.)

5 . Vị trí của pháp nhân thương mại phạm tội trong hoạt động tố tụng hình sự

Theo quy định tại Điều 55 BLTTHS năm 2015 thì pháp nhan thương mại phạm tội trong hoạt động tố tụng hình sự với vị trí là người tham gia tố tụng. Tùy từng giai đoạn tố tụng pháp nhân thương mại phạm tội có sự thay đổi vị trí tham gia tố tụng. Cụ thể là:

Một là: Vị trí người tham gia tố tụng là bị can. Vị trí bị can đối với pháp nhân thương mại phạm tội kể từ khi pháp nhân thương mại phạm tội bị khởi tố về hình sự. Vị trí bị can kéo dài đến trước ngày Tòa án có quyết định đưa ra xét xử.

>> Xem thêm:  Pháp nhân là gì ? Quy định pháp luật về điều kiện hình thành pháp nhân

Hai là: Vị trí người tham gia tố tụng là bị cáo. Vị trí bị cáo đối với pháp nhân thương mại phạm tội kể từ khi bị Tòa án có quyết định đưa ra xét xử.

Theo quy định tại các Điều 60, Điều 61 BLTTHS năm 2015 thì quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo là pháp nhân thương mại phạm tội được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân.

6. Trách nhiệm hình sự của cá nhân trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội

Tại khoản 2 Điều 75 BLHS năm 2015 quy định: “Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân”. Quy định này được hiểu là: Trường hợp pháp nhân thương mại có đủ bố điều kiện chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội đã thực hiện. Cơ quan tiến hành tố tụng hình sự cần làm rõ trách nhiệm của cá nhân trong Hội đồng quản trị của pháp nhân thương mại đã quyết định dẫn đến pháp nhân thương mại phạm tội có đủ bốn yếu tố cấu thành tội phạm thì cá nhân đó cũng phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với Giám đốc, Tổng Giám đốc điều hành của pháp nhân thương mại là người làm thuê của pháp nhân thương mại biết rõ công việc được giao làm là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn làm. Hậu quả là pháp nhân thương mại bị khởi tố về hình sự. Trường hợp này cá nhân là Giám đốc, Tổng Giám đốc của pháp nhan thương mại phạm tội cũng phải chịu trách nhiệm hình sự.

Ví dụ: Ông B là người làm thuê với chức danh Giám đốc điều hành của pháp nhân thương mại H được pháp nhân thương mại H giao vận chuyển 20 tấn hàng hóa từ kho hàng của pháp nhân thương mại H đến tỉnh N giao cho doanh nghiệp Đ đồng thời nhận 15 tấn hàng từ doanh nghiệp Đ đem về kho hàng của pháp nhân thương mại H. Khi nhận 15 tấn hàn từ doanh nghiệp Đ, tỉnh N, ông B biết rõ 15 tấn hàng đó là hàng hóa mà Nhà nước cấm mua bán, vận chuyển, tàng trữ, nhưng ông B vẫn nhận và vận chuyển 15 tấn hàng cấm đó, bị cơ quan chức năng phát hiện, bắt giữ trên đường vận chuyển và pháp nhân thương mại A bị khởi tố về hình sự. Trường hợp này, theo chúng tôi, ông B phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vận chuyển hàng cấm. Vì ông B biết rõ số hàng hóa mà ông B vận chuyển là hàng mà Nhà nước Việt nam cấm lưu hành, mua bán, vận chuyển, tàng trữ và ông B thực hiện hành vi với lỗi cố ý.

Luật Minh Khuê (sư tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Quy định mới về thành lập pháp nhân và việc đình chỉ tư cách pháp nhân ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Quy định về Căn cứ quyết định hình phạt

Trả lời:

 Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội.

Câu hỏi: Tái phạm được hiểu là gì?

Trả lời:

Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

Câu hỏi: Tái phạm nguy hiểm là gì?

Trả lời:

Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.