1. Đất thờ cúng có được phân chia thừa kế hay không?

Dear luật sư,hiện tại em có một số vướng mắc về việc làm di chúc thừa kế cho ba em như sau:ba em sinh 1950, mẹ em sinh 1953 có 4 con trai và 2 con gái, 6 người con đều có gia đình và ở riêng. Hiện tại 2 ông bà đang ở một mình. Ba em hiện tại muốn lập di chúc thừa kế với mong muốn ngôi nhà ba mẹ em đang ở hiện tại cho người con trai út, và với điều kiện ngôi nhà này chỉ thừa kế để thờ cúng không được cầm cố, chuyển nhượng hay buôn bán thì có được không luật sư.
Và về tranh chấp sau này với những anh/em khác cho xảy ra không ? Vì nguyện vọng của ba em muốn để ngoài nhà đang ở là nhà để thờ cúng ông bà, tổ tiên ?
Mong luật sư giải đáp giùm em. Em cám ơn.

Trả lời:

Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

=> Do đó, mọi người phải tôn trọng ý chí cá nhân đó và thực hiện theo đúng nội dung của di chúc mà ba anh để lại.

- Tại Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

1. Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.

Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng.

Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.

2. Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.

Như vậy, di sản dùng vào thờ cúng là di sản không phân chia và giao cho người được chỉ định trong di chúc. Trong di chúc ba anh đã ghi rõ là giao cho anh và không được dùng để chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp nên anh phải sử dụng căn nhà vào đúng mục đích là thờ cúng. Trường hợp anh sử dụng, quản lý ngôi nhà không đúng mục đích thì các anh,chị, em của bạn có quyền giao ngôi này cho người khác quản lý.

Sau này xảy ra tranh chấp anh/chị/em của bạn yêu cầu chia lại tài sản là ngôi nhà kia thì hành vi này là trái với quy định của pháp luật. Nếu anh, chị của bạn vẫn tiếp tục tranh chấp với bạn về ngôi nhà đó thì bạn có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn (anh, chị của bạn cư trú) theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục khước từ tài sản thừa kế ? Giải quyết thừa kế tài sản đất đai ?

2. Chia thừa kế theo quy định pháp luật?

Thưa luật sư: Miếng đất hiện nay gia đình tôi đang ở được đứng tên của cả cha và mẹ tôi, tức là tài sản chung của hai người. Năm 2017, cha tôi qua đời và không để lại di chúc chuyển quyền sở hữu đất đai. Năm 2019, ông nội của tôi (cha đẻ của cha tôi - chủ sở hữu đất) qua đời và cũng không làm di chúc thừa kế.

1. Mẹ tôi hiện tại đang muốn làm giấy tờ để chuyển nhượng quyền sở hữu sang cho một mình bà. Vậy mẹ tôi cần phải làm những gì?

2. Ngoài ra, ông nội tôi còn có vợ kế (hợp pháp) và 2 con riêng. Vậy họ có được hưởng quyền thừa kế miếng đất hay không?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Di sản dùng vào việc thờ cúng có được phân chia thừa kế hay không?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

Căn cứ khoản 1 Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015:

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản....

Căn cứ khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;...

Căn cứ Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2015:

Điều 652. Thừa kế thế vị

Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Như vậy theo quy định trên:

Diện tích đất của bố bạn được chia cho: Ông bạn, mẹ bạn, và các con của bố bạn, bà bạn( mẹ đẻ của bố bạn) nếu họ còn sống vào thời điểm bố bạn chết.

Diện tích đất của ông bạn được chia cho: Vợ của ông( vợ kế hợp pháp), các con của ông bạn và các con của bố bạn nếu họ còn sống vào thời điểm ông bạn chết.

Theo đó về việc mẹ bạn muốn chuyển toàn bộ tài sản sang đứng tên mình mẹ bạn là không được, về quyền sử dụng đất đứng tên cả cha bạn và mẹ bạn thì mẹ bạn có quyền sử dụng một nửa còn một nửa sẽ là di sản thừa kế của bố bạn để lại sẽ được chia đều cho những người thừa kế theo pháp luật của bố bạn như đã phân tích ở trên. Nếu mẹ bạn muốn được đứng tên trong toàn bộ tài sản thì trước hết mẹ phải bạn phải tổ chức họp mặt tất cả những người thừa kế và thỏa thuận phân hia di sản nếu tất các đồng thừa kế đồng ý tặng cho mẹ bạn toàn bộ phần di sản việc tặng cho này phải được lập thành văn bản và có công chứng chứng thực thì sau đó mẹ bạn mới có thể tiến hành thủ tục sang tên toàn bộ tài sản sang tên mình.

Thứ hai về vợ kế của ông bạn và ha người con riêng thì như phân tích ở trên: vợ kế của ông bạn là hợp pháp có đăng kí kết hôn theo quy định thì bà ấy có quyền được nhận thừa kế, về hai người con riêng thì nếu đó là con do vợ kế và ông bạn sinh ra hoặc được ông bạn nhận nuôi theo thủ tục nhận nuôi con nuôi thì họ cũng được hưởng di sản thừa kế do ông bạn để lại.

>> Xem thêm:  Phân chia tài sản chung theo quy định nào ? Chia tài sản chung của vợ chồng là bất động sản ?

3. Chia thừa kế nhà đất của người đã mất như thế nào?

Chào luật sư! Xin luật sư tư vấn giúp tôi về vấn đề như sau: Tài sản của người đã mất là : nhà và đất (Giấy CNQSDĐ mang tên "hộ ông Lại Văn A) Hộ ông Lại Văn A gồm: Chủ hộ là Lại Văn A và vợ là Mai Thị H (không có con đẻ hoặc con nuôi). Bà Mai Thị H mất vào tháng 07/2018. Người thân của ông Lại Văn A là mẹ ruột và các em ruột. Người thân của bà Mai Thị H là các em ruột.
Vậy phần tài sản nhà và đất của hộ ông Lại Văn Hoa được chia thừa kế thế nào theo đúng pháp luật?
Cám ơn luật sư!
Người gửi: Đ.X

>> Tư vấn luật dân sự trực tiếp qua số điện thoại:1900.6162

Trả lời:

Tại Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại....

Căn cứ theo nội dung này ta tiến hành chia thừa kế như sau:

Do vợ chồng ông Lại Văn A và bà Mai Thị H chết mà không để lại di chúc nên ta tiến hành chia thừa kế theo pháp luật. "Điều 651. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật 1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây: a) Không có di chúc;.." Bộ luật Dân sự 2015.

+ Xác định tài sản thừa kế riêng của vợ và chồng trong khối tài sản chung = 1/2 Tổng giá trị tài sản nhà và đất.

+ Tài sản của ông Lại Văn A là 1/2 Tổng giá trị tài sản nhà và đất do mẹ ruột của ông A hưởng thừa kế toàn bộ ( do mẹ ruột thuộc hàng thừ kế thứ nhất). Các em của ông A không được hưởng thừa kế trong trường hợp này vì họ thuộc hàng thừa kế thứ hai.

+ Tài sản của bà Mai Thị H là 1/2 Tổng giá trị tài sản nhà và đất này sẽ do các em ruột của bà H ( hàng thừa kế thứ hai) được hưởng thừa kế, do bà H không có ai ở hàng thừa kế thứ nhất được hưởng di chúc. Theo đó, các em ruột của bà H sẽ được phần tài sản bằng nhau và được chia đều cho mỗi người.

Mặt khác, nhà và đất là bất động sản không thể phân chia theo hiện vật. Do đó, ta áp dụng theo Khoản 2 Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết trường hợp này.

Điều 660. Phân chia di sản theo pháp luật

....2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia.

Nếu trong trường hợp các bên được hưởng di sản thừa kế không thỏa thuận được việc phân chia di sản thì có thể yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà mỗi người được hưởng theo quy định tại Điều 661 Bộ luật Dân sự năm 2015:

Điều 661. Hạn chế phân chia di sản

Trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thoả thuận của tất cả những người thừa kế, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định thì chỉ khi đã hết thời hạn đó di sản mới được đem chia.

Trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định. Thời hạn này không quá 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn 03 năm mà bên còn sống chứng minh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình họ thì có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quá 03 năm.

Trong trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Toà án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định, nhưng không quá ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế; nếu hết thời hạn do Toà án xác định hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu Toà án cho chia di sản thừa kế.

>> Xem thêm:  Di chúc là gì? Quy định về phân chia di sản thừa kế theo di chúc? Chia thừa kế theo di chúc ?

4. Tư vấn về việc chia thừa kế đối với nhà đang ở?

Xin chào luật sư. Cháu có một câu hỏi mong luật sư giúp cháu: Trước khi lấy mẹ cháu về, vợ cả mất và sinh được 4 người con. Sau đó bố cháu lấy vợ 2 sinh được 2 người con nữa. Khi bố cháu mất không để lại di chúc. Đất nhà cháu đang ở lại đứng tên ông nội cháu.
Vậy số tài sản nhà cháu đang ở sẽ được chia như thế nào?
Cháu xin cảm ơn luật sư!
Người gửi: H.D

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế qua tổng đài: 1900.6162

Trả lời:

Do bố bạn mất không để lại di chúc nên việc thừa kế sẽ được tiến hành theo pháp luật theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS) quy định những trường hợp thừa kế theo pháp luật. Tại Điều 651 BLDS quy định:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;....

Theo như quy định trên, 4 người con của vợ cả, 2 người con của vợ 2. mẹ bạn, bạn và các anh em là con của mẹ và bố bạn (nếu có) sẽ thuộc hàng thừa kế thứ nhất có quyền hưởng di sản. Do những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau nên di sản do bố bạn để lại sẽ được chia đều cho những người nêu trên. Ngoài ra Điều 660 BLDS có quy định chi tiết hơn về việc phân chia di sản theo pháp luật như sau:

Điều 660. Phân chia di sản theo pháp luật

1. Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia.

Các vấn đề khác về thừa kế, bạn có thể tham khảo tại phần thứ 4 của Bộ luật dân sự.

>> Xem thêm:  Tình huống chia tài sản thừa kế ? Phân chia tài sản thừa kế theo pháp luật ?

5. Chia thừa kế và thực hiện nghĩa vụ của người chết để lại?

Chào luật sư, xin cho tôi hỏi: Em trai tôi đã ly hôn với vợ, có con 4 tuổi do mẹ trực tiếp nuôi. Em tôi có một mảnh đất đang đứng tên em tôi, nhưng sổ đỏ đang được thế chấp tại ngân hàng.
Nay em tôi mất, thì khoản nợ và mảnh đất xử lý thế nào, có thể sang tên cho mẹ tôi được không?
Cảm ơn!

Chia thừa kế và thực hiện nghĩa vụ của người chết để lại?

Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, xác định quyền thừa kế:

Theo quy định của Bộ luật dân sự, người có quyền thừa kế là cá nhân là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản thừa kế chết. Thừa kế có hai hình thức thừa kế là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.

Điều 650 Bộ luật dân sự quy định những trường hợp thừa kế theo pháp luật:

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Trong trường hợp của bạn, em trai bạn mất không để lại di chúc nên tài sản của em trai bạn sẽ được chia theo pháp luật. Những người thừa kế theo pháp luật của em trai bạn bao gồm những người thừa kế theo hàng thừa kế thế nhất bao gồm những người thừa kế theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 651, gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Theo đó, em trai của bạn hiện có những người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm mẹ đẻ và con đẻ, vì em trai bạn và vợ đã ly hôn nên người vợ không thuộc người có quyền thừa kế theo pháp luật, do đó ngời thừa kế của em trai bạn hiện chỉ có hai người và theo quy định hai người này sẽ được chia phần di sản bằng nhau. Trong đó, con đẻ của em bạn mới được 4 tuổi và đang ở với mẹ nên người mẹ sẽ là người người giám hộ của bé, khi đó, mẹ bé sẽ đại diện cho bé khi thực hiện nhận di sản thừa kế và thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến phần di sản mà con được nhận.

Thứ hai, chia thừa kế và thực hiện nghĩa vụ của người chết để lại:

Di sản của em trai bạn là mảnh đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên em trai bạn. Di sản này theo nguyên tắc sẽ được chia đôi cho hai người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của em bạn là mẹ đẻ và con đẻ của em trai bạn. Nếu hai người thừa kế này thỏa thuận được với nhau về việc phân chia di sản thừa kế thì thực hiện theo thỏa thuận đó. Trong trường hợp này, mẹ của bạn và vợ của em trai bạn phải thỏa thuận được với nhau về việc chia di sản, và thỏa thuận này phải được lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật. Một số lưu ý khi thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất:

- Nếu thỏa thuận chia thửa đất và tách thừa thì các bên phải chú ý đến điều kiện về diện tích tối thiểu khi tách thửa của địa phương, việc tách thửa được quy định cụ thể tại từng địa phương, từng khu vực cụ thể và quy định này được UBND cấp tỉnh quy định, do đó trước khi có ý định chia, tách thửa thì các bên cần tìm hiểu trước các quy định liên quan đến việc tách thửa này;

- Nếu đồng ý để một người sở hữu mảnh đất đó thì bên sở hữu sẽ hoàn trả một số tiền tương ứng với phần giá trị mà người còn lại được hưởng, hoặc các bên có thể thỏa thuận khác.

Nếu các bên không tự thỏa thuận được việc phân chia di sản thừa kế thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ của người thừa kế đối với nghĩa vụ do người chết để lại. Điều 615 Bộ luật Dân sự quy định về thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại như sau:

1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.

3. Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.

Như vậy, căn cứ quy định trên, người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại trong phạm vi di sản do người chết để lại và tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mình đã nhận. Theo đó, mẹ của bạn và cháu của bạn ( mẹ của cháu sẽ đại diện thực hiện nghĩa vụ thay cháu) là hai người thừa kế của em trai bạn, sẽ phải có trách nhiệm với khoản nợ của em trai bạn đang nợ ngân hàng bằng tài sản mỗi người nhận được từ việc thừa kế. Do sổ đỏ đang thế chấp ngân hàng nên mẹ bạn và vợ của em trai bạn có thể thỏa thuận về việc trả nợ và rút sổ đỏ về hoặc thực hiện việc chia di sản thừa kế sau đó cùng nhau thực hiện nghĩa vụ trả nợ ngân hàng trên phần tài sản mình nhận được. Trường hợp nếu quá hạn trả ngân hàng và căn cứ trên hợp đồng vay và thế chấp, ngân hàng có thể xử lý tài sản thế chấp theo quy định về xử lý tài sản đảm bảo để thực hiện nghĩa vụ của em trai bạn. Phần tài sản còn lại sẽ vẫn được chia thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn thừa kế, tặng cho quyền sử dụng nhà đất

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế bắt đầu

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 614 Bộ luật dân sự 2015 thì thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế được quy định cụ thể như sau:

Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.

Trong đó, thời điểm mở thừa kế được xác định như sau:

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật dân sự 2015.

Điều 71 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:

- Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:

+ Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

+ Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

+ Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

+ Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự 2015.

- Căn cứ vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự 2015, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết.

- Quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Câu hỏi: Di chúc có bắt buộc phải lập thành văn bản hay không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 627 Bộ luật dân sự 2015 thì hình thức của di chúc được quy định cụ thể như sau:

Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Căn cứ quy định mà Ban biên tập đã trích dẫn trên đây thì di chúc có thể được thành lập dưới hình thức là văn bản hoặc di chúc miệng.

Trong đó:

- Di chúc bằng văn bản bao gồm:

+ Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng.

+ Di chúc bằng văn bản có người làm chứng.

+ Di chúc bằng văn bản có công chứng.

+ Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

- Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.

Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

Câu hỏi: Những chủ thể không được tiến hành công chứng, chứng thực di chúc

Trả lời:

Công chứng viên, người có thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã không được công chứng, chứng thực đối với di chúc nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

– Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.

– Người có cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.

– Người có quyền, nghĩa vụ về tài sản liên quan tới nội dung di chúc.