1. Tại khoản 2 điều 21 nghị định 86 tại sao quy định trưởng đoàn thanh tra được sử dụng con dấu của cơ quan chủ trì? văn bản do trưởng đoàn thanh tra ban hành khi sử dụng dấu đó có khác gì văn bản do cơ quan chủ trì ban hành?

2. Trong khoản 1, tại điều 49 luật thanh tra(2010) tại sao trường hợp người ra quyết định thanh tra là thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước thì báo cáo kết quả thanh tra còn phải được gửi cho thủ trưởng cơ quan thanh tra cùng cấp?

3. Khoản 1, điều 37 nghị định 86 như thế nào là chiếm dụng, như thế nào là chiếm đoạt?

4. Tại sao thời hiệu thanh tra lại là 2 năm(điều 50, NĐ 86)

5. Khoản 2, điều 52, tại sao trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ký quyết định thanh tra lại, người ra quyết định thanh tra lại phải gửi kết luận thanh tra cho thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp, cơ thanh thanh tra nhà nước cấp trên? những tác động của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp, cơ thanh thanh tra nhà nước cấp trên có ảnh hưởng gì đến kết luận thanh tra lại?

Câu hỏi được biên tập từ bộ phận hỏi đáp pháp luật của công ty luật Minh Khuê.

Thắc mắc về Nghị định 86/2011/NĐ-CP

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

Nghị định số 86/2011/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra;

Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 của Quốc hội.

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội.

Nội dung tư vấn:

1. Tại khoản 2 điều 21 nghị định 86 tại sao quy định trưởng đoàn thanh tra được sử dụng con dấu của cơ quan chủ trì? Văn bản do trưởng đoàn thanh tra ban hành khi sử dụng dấu đó có khác gì văn bản do cơ quan chủ trì ban hành?

Khoản 2 điều 21 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP quy định:

"2. Trưởng đoàn thanh tra có các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 46 của Luật Thanh tra; chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước người ra quyết định thanh tra, người quản lý trực tiếp về việc thực hiện nhiệm vụ thanh tra được giao.

Trong quá trình tiến hành thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra được sử dụng dấu của cơ quan chủ trì tiến hành thanh tra khi ban hành những văn bản để áp dụng các biện pháp thực hiện quyền thanh tra.

Thanh tra Chính phủ hướng dẫn việc Trưởng đoàn thanh tra được sử dụng dấu của cơ quan chủ trì tiến hành thanh tra."

Tại khoản 2 điều 21 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP đã quy định rõ sử dụng dấu của cơ quan chủ trì "để áp dụng các biện pháp thực hiện quyền thanh tra."

Ví dụ như  đối với quyết định: "g) Quyết định niêm phong tài liệu của đối tượng thanh tra khi có căn cứ cho rằng có vi phạm pháp luật;" quy định tại điểm g khoản 1 điều 46 Luật Thanh tra 2010 thì khi ra quyết định, Trưởng đoàn thanh tra được sử dụng dấu của cơ quan chủ trì trong quyết định đó để có thể áp dụng biện pháp niêm phong đảm bảo thẩm quyền thanh tra.

Văn bản do trưởng đoàn thanh tra ban hành khi sử dụng dấu đó và văn bản do cơ quan chủ trì ban hành đương nhiên khác nhau vì thẩm quyền của cơ quan chủ trì và thẩm quyền của Trưởng đoàn thanh tra là khác nhau:

- Văn bản do trưởng đoàn thanh tra dưới hình thức quyết định là văn bản mang tính chất biên bản. Tại điều khoản 1 điều 36 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP quy định:

"1. Khi xét thấy cần bảo đảm nguyên trạng tài liệu, Trưởng đoàn thanh tra có quyền quyết định niêm phong một phần hoặc toàn bộ tài liệu có liên quan đến nội dung thanh tra.

Quyết định niêm phong tài liệu phải bằng văn bản, trong đó ghi rõ tài liệu cần niêm phong, thời hạn niêm phong, nghĩa vụ của đối tượng thanh tra. Trường hợp cần thiết thì lập biên bản về danh mục tài liệu niêm phong, biên bản phải có chữ ký của đối tượng thanh tra và đại diện Đoàn thanh tra."

Hoặc quyết định kiểm kê (điều 37 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP) :

"1. Khi tiến hành thanh tra nếu phát hiện giữa sổ sách, chứng từ với thực tế có chênh lệch, bất hợp lý hoặc có dấu hiệu chiếm dụng, chiếm đoạt, có hành vi chiếm dụng, chiếm đoạt tài sản thì Trưởng đoàn thanh tra, người ra quyết định thanh tra quyết định kiểm kê tài sản.

2. Quyết định kiểm kê tài sản phải bằng văn bản, trong đó ghi rõ tài sản kiểm kê, thời gian, địa điểm tiến hành, trách nhiệm của những người tiến hành, nghĩa vụ của đối tượng có tài sản kiểm kê. Việc kiểm kê tài sản phải lập thành biên bản. Đối với tài sản xét thấy cần giao cho cơ quan chức năng tạm giữ thì yêu cầu cơ quan đó thực hiện việc tạm giữ. Đối với tài sản riêng của cá nhân thì việc kiểm kê tài sản thực hiện theo quy định của pháp luật.

3. Khi xét thấy không cần thiết áp dụng biện pháp kiểm kê tài sản thì người ra quyết định kiểm kê phải ra quyết định hủy bỏ ngay biện pháp đó."

- Đối với văn bản của cơ quan chủ trì: 

Theo điều 4 Luật thanh tra 2010 quy định:

"Điều 4. Cơ quan thực hiện chức năng thanh tra

1. Cơ quan thanh tra nhà nước, bao gồm:

a) Thanh tra Chính phủ;

b) Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ (sau đây gọi chung là Thanh tra bộ);

c) Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Thanh tra tỉnh);

d) Thanh tra sở;

đ) Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Thanh tra huyện).

2. Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành."

Đối với văn bản do các cơ quan này ban hành là văn bản dưới hình thức quyết định, quy định, hướng dẫn về việc thanh tra.

Ví dụ:  Thông tư 09/2014/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ Quy định tiêu chuẩn chức danh Phó Chánh Thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ, Phó Chánh Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Thông tư 05/2014/TT-TTCP quy định về tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của Đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra.

Quyết định 1645/QĐ-TTCP Quy chế cập nhật thông tin, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao Thanh tra Chính phủ.

....

Hoặc các quyết định thanh tra do Thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước ra quyết định thanh tra và Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm thực thi nhiệm vụ thanh tra đối với quyết định đó. 

"2. Thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra để thực hiện quyết định thanh tra. Khi xét thấy cần thiết, Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra.

Đoàn thanh tra có Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên và các thành viên khác." (khoản 2 điều 43 Luật thanh tra 2010).

Ví dụ: Công văn 1764/BTTTT-TTra thanh tra diện rộng kiểm định công bố sự phù hợp

Công văn 119/BTP-ĐTTR công bố Quyết định thanh tra

Công văn 1792/TCT-TTr 2015 công bố kết luận thanh tra thuế tại Doanh nghiệp

2. Giải thích câu 2 và 5:

Khoản 1 điều 49 Luật thanh tra 2010 quy định:

"1. Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày kết thúc cuộc thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra phải có văn bản báo cáo kết quả thanh tra và gửi tới người ra quyết định thanh tra. Trường hợp người ra quyết định thanh tra là Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước thì báo cáo kết quả thanh tra còn phải được gửi cho Thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp."

Theo khoản 2 điều 52 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP:

"2. Kết luận thanh tra lại được thực hiện theo quy định tại Điều 49 của Luật Thanh tra. Nội dung kết luận thanh tra lại phải xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tiến hành thanh tra, kết luận thanh tra và kiến nghị biện pháp xử lý.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ký kết luận thanh tra lại, người ra quyết định thanh tra lại phải gửi kết luận thanh tra lại cho Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp, cơ quan thanh tra nhà nước cấp trên."

Kết luận thanh tra là kết quả quá trình hoạt động của Đoàn thanh tra, là cơ sở quan trọng để giúp cơ quan có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm pháp luật cũng như phát huy nhân tố tích cực, qua đó góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Việc cơ quan quản lý nhà nước phải thông báo kết quả của hoạt động thanh tra cho cơ quan thanh tra hay ngược lại để đảm bảo thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về thanh tra. Điều 5 Luật thanh tra 2010 quy định:

"Cơ quan thanh tra nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện và giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật."

Vậy thì vai trò, tổ chức của cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan thanh tra như thế nào?

Các cơ quan Thanh tra Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc song trùng trực thuộc; mỗi cơ quan Thanh tra chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp, đồng thời chịu sự chỉ đạo hướng dẫn của cơ quan Thanh tra nhà nước cấp trên về công tác, tổ chức, nghiệp vụ thanh tra. Các cơ quan thanh tra nhà nước có chức năng giúp Thủ trưởng cùng cấp thực hiện nhiệm vụ thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của ngành và cấp đó; nhiệm vụ, quyền hạn chung của các cơ quan thanh tra nhà nước là thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ kế hoạch nhà nước của các cơ quan, tổ chức và cá nhân thuộc phạm vi quản lý của cơ quan đó; xem xét, kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết hoặc giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo; chỉ đạo về tổ chức và hoạt động đối với cơ quan, tổ chức hữu quan trong phạm vi chức năng của mình; tuyên truyền, hướng dẫn việc thực hiện pháp luật về thanh tra; kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền những vấn đề về quản lý nhà nước cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các quy định phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước...

Bạn có thể tham khảo bài viết dưới đây để nắm rõ hơn về vấn đề này:

Về tổ chức và hoạt động của các cơ quan thanh tra

3. Khoản 1, điều 37 nghị định 86 như thế nào là chiếm dụng, như thế nào là chiếm đoạt?

Theo khoản 1 điều 37 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP quy định:

"1. Khi tiến hành thanh tra nếu phát hiện giữa sổ sách, chứng từ với thực tế có chênh lệch, bất hợp lý hoặc có dấu hiệu chiếm dụng, chiếm đoạt, có hành vi chiếm dụng, chiếm đoạt tài sản thì Trưởng đoàn thanh tra, người ra quyết định thanh tra quyết định kiểm kê tài sản."

Theo quy định của điều 164 Bộ luật dân sự 2005 về quyền sở hữu:

"Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản."

Có thể thấy một chủ sở hữu thì có 3 quyền đối với tài sản của mình là chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó. 

Hiện tại cũng chưa có văn bản pháp luật nào giải thích chiếm dụng là gì nhưng bạn có thể hiểu chiếm dụng là việc một người ngang nhiên sử dụng tài sản của người khác mà không được người đó cho phép hoặc sử dụng trái phép tài sản của người khác.

Còn chiếm đoạt thì có thể hiểu là một người dùng thủ đoạn, toan tính, bằng vũ lực, quyền thế... biến tài sản của người khác thành của mình.

Quy định này ý nói đến việc phát hiện dấu hiệu tham nhũng khi tiến hành thanh tra.

4. Tại sao thời hiệu thanh tra lại là 2 năm (điều 50, NĐ 86)?

Theo điều 50 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP:

"1. Thời hiệu thanh tra lại là 02 năm, kể từ ngày ký kết luận thanh tra.

2. Thời hạn tiến hành thanh tra lại được thực hiện theo quy định tại Điều 45 của Luật Thanh tra."

Theo khoản 1 điều 47 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP:

"1. Thanh tra lại là việc xem xét, đánh giá, xử lý kết luận thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong quá trình thanh tra, ra kết luận thanh tra."

Theo quy định của pháp luật về dân sự thì thời hiệu là một chế định pháp lý quan trọng trong việc xác lập quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ dân sự. Điều 154 BLDS 2005 quy định: “Thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự, được miễn trừ nghĩa vụ dân sự hoặc mất quyền khởi kiện vụ án dân sự, quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự”.

Việc Chính phủ quy định thời hiệu thanh tra lại là để cho cơ quan có thẩm quyền thanh tra xem xét, đánh giá, xử lý kết luận thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong quá trình thanh tra, ra kết luận thanh tra nên thời hiệu là 2 năm là khoảng thời gian cho phép đủ để việc thanh tra lại để đảm bảo công tác trong quá trình thanh tra. Hết thời hiệu đó thì các chủ thể có thẩm quyền sẽ không có quyền tiến hành hoạt động thanh tra lại.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900 6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT DÂN SỰ.