1. Thâm hụt ngân sách là gì?

1.1 Một số thuật ngữ liên quan

Ngân sách Nhà nước là tổng các kế hoạch hàng năm về chi tiêu và thu nhập của Chính phủ.

Thặng dư ngân sách Nhà nước là khi tất cả các loại thuế và các nguồn thu khác lớn hơn chi tiêu chính phủ trong một năm.

Ngân sách cân bằng khi số thu và số chi của chính phủ bằng nhau trong một giai đoạn nhất định.

Nợ chính phủ (nợ công) là tổng những khoản vay hay tổng các khoản nợ tồn của chính phủ. Nợ trong nước là nợ của chính phủ một nước đối với công dân của nước đó. Nợ nước ngoài là nợ của chính phủ đối với người nước ngoài.

Thâm hụt ngân sách trong tiếng Anh gọi là Budget deficit. Thâm hụt ngân sách Nhà nước là tình trạng chi tiêu vượt quá nguồn thu ngân sách Nhà nước, phần chênh lệch gọi là thâm hụt ngân sách Nhà nước.

Thâm hụt ngân sách trong kinh tế học vĩ mô và kinh tế học công cộng là tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước (ngân sách chính phủ) lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách. Trường hợp ngược lại, khi các khoản thu lớn hơn các khoản chi được gọi là thặng dư ngân sách. Thu của chính phủ không bao gồm khoản đi vay. Đi vay chính là một cách mà chính phủ tài trợ cho thâm hụt ngân sách. Trong lịch sử, phát hành thêm tiền đã từng là một cách tài trợ cho thâm hụt ngân sách, nhưng do hậu quả nghiêm trọng của nó là dẫn đến lạm phát ở mức cao nên ngày nay cách này hầu như không được chính phủ của bất cứ quốc gia nào sử dụng nữa. Do chính phủ bù đắp cho thâm hụt ngân sách bằng cách đi vay, nên lũy kế các khoản thâm hụt ngân sách chính phủ đến một thời điểm nào đó chính là nợ chính phủ. Về mặt tài chính, thâm hụt xảy ra khi chi phí vượt quá doanh thu, nhập khẩu vượt xuất khẩu, hoặc nợ phải trả vượt quá tài sản. Thâm hụt đồng nghĩa với thiếu hụt hoặc thua lỗ và ngược lại với thặng dư. Thâm hụt có thể xảy ra khi chính phủ, công ty hoặc cá nhân chi tiêu nhiều hơn số tiền họ nhận được trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm.

Ngân sách thường bao gồm một danh mục các chương trình cụ thể (giáo dục, phúc lợi, quốc phòng) cũng như các nguồn thuế (thuế thu nhập cá nhân, thuế tiêu thụ đặc biệt). Theo P. A Samuelson, ngân sách Chính phủ phục vụ ba chức năng kinh tế chính. Thứ nhất, ngân sách Chính phủ là một công cụ theo đó sản lượng quốc gia được phân chia giữa tiêu dùng và đầu tư tư nhân và công cộng. Thứ hai, thông qua chi tiêu trực tiếp và các khuyến khích gián tiếp về thuế, ngân sách của Chính phủ tác động đến các cung đầu vào như lao động, vốn và tác động đến đầu ra của hầu hết các khu vực trong nền kinh tế. Thứ ba, chính sách tài khóa hay ngân sách của Chính phủ có vai trò trong việc tác động đến những mục tiêu vĩ mô then chốt. Chính sách tài khóa hay Ngân sách của Chính phủ chính là quá trình xây dựng thuế khóa và chi tiêu công cộng nhằm hạn chế những dao động của chu kỳ kinh doanh và góp phần duy trì một nền kinh tế tăng trưởng, có mức hữu nghiệp cao, tránh được lạm phát lớn hay lạm phát không ổn định. Chính phủ có thể điều chỉnh ngân sách hay chính sách tài khóa bằng cách thay đổi thuế suất hoặc các chương trình chi tiêu, còn được gọi là chính sách tài khóa tùy biến. Bên cạnh đó, bản thân hệ thống tài khóa hiện đại còn có những tính chất ổn định tự động. Cơ chế ổn định tự động chủ yếu là những thay đổi tự động trong doanh thu thuế và thanh toán chuyển nhượng trước những biến động của nền kinh tế. Quan điểm của các nhà kinh tế học trường phái Keynes rất xem trọng vai trò của chính sách tài khóa đối với nền kinh tế, đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng hay trì trệ. Lý thuyết của trường phái Keynes nhấn mạnh đến vai trò của chi tiêu Chính phủ nhằm kích cầu, thông qua hiệu ứng số nhân đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy chính sách tài khóa không phải lúc nào cũng hoạt động tốt như trong lý thuyết và không phải lúc nào cũng có thể hạn chế những tác động tiêu cực của chu kỳ kinh doanh. Hơn nữa, chính sách tiền tệ đã trở thành một công cụ được ưa thích hơn để điều hòa những dao động của nền kinh tế hiện đại. Mặc dù vậy, bất cứ công cụ chính sách nào cũng có những ưu điểm và hạn chế nhất định của nó, bao gồm cả chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Do vậy, các giáo trình kinh tế học hiện đại đều quan tâm đến sự kết hợp hiệu quả của các chính sách để thực hiện các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế.

Ví dụ: Thâm hụt ngân sách liên bang ngày nay ở Hoa Kỳ. Vào tháng 9 năm 2020, Văn phòng Ngân sách Quốc hội (CBO) dự kiến ​​thâm hụt ngân sách liên bang là 3,3 nghìn tỷ đô la cho năm 2020, cao hơn gấp ba lần thâm hụt cho năm 2019. Sự gia tăng này, CBO giải thích, "phần lớn là kết quả của sự gián đoạn kinh tế gây ra vào năm 2020. đại dịch coronavirus và việc ban hành luật pháp để ứng phó. " CBO nói thêm rằng thâm hụt ngân sách 3,3 nghìn tỷ USD sẽ bằng 16% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước, khiến nước này trở thành mức thâm hụt hàng năm lớn nhất kể từ năm 1945, năm cuối cùng của Thế chiến thứ hai. Về nợ quốc gia, CBO dự kiến ​​rằng vào cuối năm 2020, nợ liên bang do công chúng nắm giữ (chứ không phải chính phủ) sẽ đạt 98% GDP, so với 79% vào cuối năm 2019. Đối mục đích so sánh, trước khi bắt đầu cuộc Đại suy thoái năm 2007, nó ở mức 35% GDP. Tại thời điểm này, CBO cũng dự đoán rằng nợ sẽ đạt 107% GDP vào năm 2023, mức cao nhất trong lịch sử quốc gia. Các doanh nghiệp có thể điều hành thâm hụt ngân sách để tối đa hóa cơ hội thu nhập trong tương lai, chẳng hạn như giữ nhân viên trong những tháng thấp điểm để đảm bảo lực lượng lao động đầy đủ trong thời gian bận rộn hơn. Ngoài ra, một số chính phủ có thể bị thâm hụt để tài trợ cho các dự án công cộng và duy trì các chương trình cho công dân của họ. Trong thời kỳ suy thoái, chính phủ có thể cố tình thâm hụt bằng cách giảm các nguồn thu nhập (chẳng hạn như thuế), trong khi duy trì hoặc thậm chí tăng chi tiêu cho cơ sở hạ tầng, để cung cấp việc làm và thu nhập. Theo lý thuyết, những biện pháp này sẽ thúc đẩy sức mua của cộng đồng, kích thích nền kinh tế phát triển.

1.2 Phân loại

Các lý thuyết kinh tế học hiện đại cho rằng: NSNN không nhất thiết lúc nào cũng phải thăng bằng. Vấn đề là quản lý thu chi sao cho ngân sách không bị thâm hụt quá lớn và kéo dài. Khi nền kinh tế vận động theo chu kỳ thì chính chu kỳ kinh doanh tác động không nhỏ đến thâm hụt ngân sách Nhà nước. Thường thì thu ngân sách Nhà nước tăng lên trong thời kỳ nền kinh tế phồn thịnh (giai đoạn mở rộng) và giảm đi trong thời kỳ suy thoái. Ngược lại chi ngân sách Nhà nước tăng trong thời kỳ suy thoái và giảm trong thời kỳ phồn thịnh. Chính vì vậy mà thâm hụt ngân sách Nhà nước càng trầm trọng trong thời kỳ suy thoái, bất chấp mọi cố gắng của chính phủ.

Hai loại thâm hụt chính mà một quốc gia có thể gánh chịu là thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại.

– Thâm hụt ngân sách

Thâm hụt ngân sách xảy ra khi một năm Chính phủ chi tiêu nhiều hơn số thu ngân sách thu được, chẳng hạn như thuế. Ví dụ đơn giản, nếu một chính phủ đạt doanh thu 10 tỷ đô la trong một năm cụ thể và chi tiêu của họ trong cùng năm là 12 tỷ đô la, thì chính phủ đó đang thâm hụt 2 tỷ đô la. Thâm hụt đó, cộng với những năm trước đó, tạo thành nợ quốc gia của đất nước.

– Thâm hụt thương mại

Thâm hụt thương mại tồn tại khi giá trị hàng hóa nhập khẩu của một quốc gia vượt quá giá trị hàng hóa xuất khẩu của quốc gia đó. Ví dụ, nếu một quốc gia nhập khẩu 3 tỷ đô la hàng hóa nhưng chỉ xuất khẩu trị giá 2 tỷ đô la, thì quốc gia đó nhập siêu 1 tỷ đô la cho năm đó. Trên thực tế, nhiều tiền rời khỏi đất nước hơn là đổ vào, điều này có thể gây ra sự sụt giảm giá trị của đồng tiền cũng như giảm việc làm.

Điều khoản thâm hụt khác:  Cùng với thâm hụt ngân sách và thương mại, đây là một số điều khoản khác liên quan đến thâm hụt mà bạn có thể gặp phải:

– Thâm hụt tài khoản vãng lai (Current account deficit) là khi một quốc gia nhập khẩu nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn xuất khẩu.

– Thâm hụt theo chu kỳ (Cyclical deficit) xảy ra khi một nền kinh tế hoạt động không tốt do chu kỳ kinh doanh đi xuống.

– Tài trợ thâm hụt (Deficit financing) đề cập đến các phương pháp mà chính phủ sử dụng để tài trợ cho thâm hụt ngân sách của họ – chẳng hạn như phát hành trái phiếu hoặc in thêm tiền.

– Thâm hụt chi tiêu (Deficit spending) là khi chính phủ chi tiêu nhiều hơn doanh thu mà họ thu được trong một thời kỳ nhất định.

– Thâm hụt tài khóa (Fiscal deficit) xảy ra khi tổng chi tiêu của chính phủ vượt quá doanh thu mà chính phủ tạo ra, không bao gồm tiền từ việc đi vay.

– Thâm hụt chính (Primary deficit) là thâm hụt tài chính cho năm hiện tại trừ đi các khoản trả lãi cho các khoản vay trước đó.

– Thâm hụt doanh thu (Revenue deficit) mô tả sự thiếu hụt của tổng thu nhập so với tổng thu chi cho một chính phủ.

– Thâm hụt cơ cấu (Structural deficit) được cho là xảy ra khi một quốc gia thâm hụt ngay cả khi nền kinh tế của họ đang hoạt động hết khả năng.

– Thâm hụt kép (Twin deficit) xảy ra khi một nền kinh tế vừa thâm hụt tài khóa vừa thâm hụt tài khoản vãng lai.

Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ.

– Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng,...

– Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân. Ví dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên. Giá trị tính ra tiền của thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ được tính toán như sau:

+ Ngân sách thực có: liệt kê các khoản thu, chi và thâm hụt tính bằng tiền trong một giai đoạn nhất định (thường là một quý hoặc một năm).

+ Ngân sách cơ cấu: tính toán thu, chi và thâm hụt của chính phủ sẽ là bao nhiêu nếu nền kinh tế đạt mức sản lượng tiềm năng.

+ Ngân sách chu kỳ: là chênh lệch giữa ngân sách thực có và ngân sách cơ cấu.

Việc phân biệt giữa ngân sách cơ cấu và ngân sách chu kỳ phản ánh sự khác nhau giữa chính sách tài chính: chính sách ổn định tùy biến và chính sách ổn định tự động. Việc phân biệt hai loại thâm hụt trên đây có tác dụng quan trọng trong việc đánh giá ảnh hưởng thực sự của chính sách tài chính khi thực hiện chính sách tài chính mở rộng hay thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân sách như thế nào giúp cho chính phủ có những biện pháp điều chỉnh chính sách hợp lý trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế

2. Cách xác định thâm hụt ngân sách

Thâm hụt ngân sách (budget decifit) là tình hình trong đó tổng chi tiêu vượt quá tổng thu nhập hay nguồn thu ngân sách. Khái niệm này thường được dùng để chỉ tình trạng tổng nguồn thu từ thuế của chính phủ không đủ để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của chính phủ. Nếu ký hiệu thâm hụt ngân sách của chính phủ là BD, tổng nguồn thu của chính phủ là T và tổng mức chi tiêu của chính phủ là G, chúng ta có thể viết:

BD = G -T

BD < 0: Thặng dư ngân sách Nhà nước

BD = 0: Ngân sách Nhà nước cân bằng

BD > 0: Thâm hụt ngân sách Nhà nước

Tùy vào tình hình kinh tế và các sự kiện khác nhau, thu và chi thực tế có thể lớn hoặc nhỏ hơn so với dự kiến. Khi lâm vào tình trạng thâm hụt ngân sách thì chính phủ phải đi vay công chúng để trả cho những khoản nợ của mình.

Vì mức thu ròng từ thuế (T = Te + Td - TR) của chính phủ phụ thuộc vào thu nhập (T - tY, trong đó t là thuế suất bình quân), còn mức chi tiêu của chính phủ là một đại lượng không phụ thuộc vào thu nhập (Y) của nền kinh tế (G = G ), nên thâm hụt ngân sách có thể biểu thị bằng phương trình:

BD = G - tY

Phương trình này cho thấy thâm hụt ngân sách có thể phát sinh một cách khách quan (khi thu nhập Y của nền kinh tế giảm xuống dưới một mức nào đó), chứ không phải chỉ phụ thuộc vào chính phủ (tức việc chính phủ quyết định mức chi tiêu và thuế suất bình quân). Để có chi tiêu đánh giá mức thâm hụt hoàn toàn do Yếu tố chủ quan của chính phủ gây ra, người ta dùng chi tiêu thâm hụt ngân sách toàn dụng (với Y = y*. trong đó y* là sản lượng toàn dụng).

3. Ảnh hưởng thâm hụt ngân sách đến nền kinh tế

Thâm hụt ngân sách là một trong những vấn đề gây nhiều tác động phức tạp đối với nền kinh tế. Như đã nói ở phần trên, thâm hụt ngân sách sẽ dấn đến việc Chính phủ phải vay nợ để tài trợ cho khoản thâm hụt ngân sách này. Vì vậy xem tác động của thâm hụt ngân sách đối với nền kinh tế không thể bỏ qua tác động của nợ Chính phủ do thâm hụt ngân sách gây nên. Theo P.A Sam-uelson, xét trong ngắn hạn, trữ lượng nợ của Chính phủ là cho trước và sản lượng thực tế có thể dao động quanh mức sản lượng tiềm năng của nó. Tác động ngắn hạn của thâm hụt ngân sác đối với nền kinh tế được gọi là sự "thoái giảm" trong đầu tư tư nhân. Trong dài hạn, nợ Chính phủ thay đổi tùy theo các đường lối tài khóa và tiền tệ khác nhau, còn sản lượng có xu hướng tiến tới mức tiềm năng của nó. Tác động dài hạn của thâm hụt ngân sách bao gồm tác động của nợ Chính phủ đối với sự tạo vốn và tiêu dùng của các thế hệ tương lai, được gọi là "gánh nặng nợ nần" đối với nền kinh tế.

Thâm hụt ngân sách có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế theo nhiều cách như:

– Làm giảm đầu tư tư nhân: Khi chính phủ vay nợ để tài trợ thâm hụt ngân sách, sẽ làm giảm nguồn tiết kiệm của xã hội và làm tăng lãi suất. Điều này sẽ làm giảm khả năng và động lực của các nhà đầu tư tư nhân, gây ra hiện tượng “đuổi vốn” (crowding out).

– Làm giảm giá trị đồng tiền: Khi chính phủ in thêm tiền để tài trợ thâm hụt ngân sách, sẽ làm tăng lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế và làm giảm giá trị của đồng tiền. Điều này sẽ làm tăng tỷ giá hối đoái và làm mất cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu.

– Làm tăng nợ công: Khi chính phủ vay nợ để tài trợ thâm hụt ngân sách, sẽ làm tăng mức nợ công của quốc gia. Điều này sẽ làm giảm độ tin cậy của các nhà đầu tư và các tổ chức quốc tế, làm tăng chi phí vay và gánh nặng trả nợ cho chính phủ

Theo dự toán của Chính phủ, thu ngân sách năm 2021 là 1.343,33 nghìn tỷ đồng, tăng 1,5% so với ước thực hiện năm 2020, giảm 11,1% so với dự toán năm 2020; tỷ lệ huy động vào ngân sách khoảng 15,5%GDP điều chỉnh, trong đó từ thuế, phí khoảng 13%GDP (tương ứng 16,6% nếu tính theo quy mô GDP chưa điều chỉnh; thấp hơn tỷ lệ 21% của mục tiêu giai đoạn 2016-2020). Dự toán chi cân đối ngân sách năm 2021 là 1.687.000 tỷ đồng, thấp hơn 60,1 nghìn tỷ đồng (-3,4%) so với dự toán năm 2020. Dự toán chi đầu tư phát triển năm 2021 là 477,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 28,3% tổng chi ngân sách, tăng 6,7 nghìn tỷ đồng so với dự toán năm 2020. Chính phủ dự kiến tỷ lệ bội chi năm 2021 khoảng 4%GDP điều chỉnh (tương ứng khoảng 5% nếu tính theo quy mô GDP chưa điều chỉnh), thâm hụt ngân sách là 343,67 nghìn tỷ đồng, tăng 108,87 nghìn tỷ đồng so với dự toán năm 2020; nợ công dự kiến khoảng 46,1%GDP điều chỉnh và nợ Chính phủ 41,9%GDP điều chỉnh (tương ứng khoảng 59,6% và 53,2% nếu tính theo quy mô GDP chưa điều chỉnh). 

Thâm hụt ngân sách và nợ công cao như hiện nay là một trong những rủi ro vĩ mô lớn nhất của nền kinh tế, đồng thời làm hạn chế các lựa chọn của Chính phủ trong việc đưa nền kinh tế thoát khỏi vũng trũng suy giảm và tiến vào quỹ đạo tăng trưởng mới. Ở khu vực tài chính ngân sách, các chuyên gia kinh tế đã phân tích, Việt Nam vẫn ở trong tình trạng có mức mất cân bằng ngân sách cao so với các nước trong khu vực. Thâm hụt ngân sách cao qua các năm đã khiến nợ công gia tăng và so với nhiều nước đang phát triển thì Việt Nam thuộc nhóm có tỷ lệ nợ công cao. Để cải thiện tình trạng này, Chính phủ cần tăng cường chính sách trọng cung, phát triển kinh tế tư nhân. Khu vực kinh tế tư nhân không chỉ được coi là một động lực quan trọng, mà cần khẳng định là động lực cơ bản, là trụ cột chính nhằm tạo ra được những bứt phá trong phát triển kinh tế phù hợp với xu thế của nền kinh tế thị trường hiện đại trong bối cảnh đẩy nhanh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Bên cạnh đó, cần thay đổi chính sách ưu đãi cho khu vực FDI. Cụ thể là giảm dần việc áp dụng hình thức ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế một cách tràn lan, “xé rào” ở các địa phương; rà soát lại toàn bộ các quy định pháp lý về ưu đãi thuế đối với các dòng vốn FDI kém chất lượng. Ngoài ra, cần tăng cường khả năng chống đỡ tốt hơn những cú sốc từ bên ngoài. Đồng thời, cần cải cách hệ thống thuế nhằm giảm bớt gánh nặng thuế khóa, tạo nguồn thu ngân sách ổn định và cân bằng. Đặc biệt cần cơ cấu lại chi ngân sách theo hướng ổn định và gia tăng hiệu quả đầu tư phát triển, chỉ bố trí vốn từ ngân sách nhà nước cho những công trình thật sự cần thiết, có hiệu quả cao, đồng thời kiểm soát chặt chẽ đầu tư công nhằm chống dàn trải, lãng phí, thất thoát, tham nhũng… 

Trên đây Luật Minh Khuê chia sẻ các bạn về những vấn đề liên quan đến Thâm hụt ngân sách (budget deficit) là gì? Hy vọng bài viết trên giúp ích các bạn. Luật Minh Khuê tự hào là đơn vị hàng đầu hỗ trợ mọi vấn đề liên quan đến pháp lý, tư vấn pháp luật, thủ tục giấy tờ cho khách hàng. Liên hệ ngay với chúng tôi qua số tổng đài 19006162  hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn và hỗ trợ nhanh chóng, hiệu quả, uy tín, chất lượng và tiết kiệm chi phí nhất.