Trong bối cảnh cải cách tư pháp sâu rộng, hệ thống Tòa án nhân dân Việt Nam đã có những chuyển dịch đột phá với việc thành lập Tòa án nhân dân Khu vực thay thế cho TAND cấp huyện và tinh gọn thẩm quyền của TAND cấp tỉnh. Những thay đổi này không chỉ giúp tập trung nguồn lực, nâng cao năng lực chuyên môn của thẩm phán mà còn góp phần tạo sự thống nhất trong hoạt động xét xử. Qua đó, hệ thống Tòa án hoạt động hiệu quả hơn, minh bạch hơn, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Đây là bước tiến quan trọng, đặt nền móng vững chắc cho việc thực thi quyền lực tư pháp ngày càng công băng và nghiêm minh.
1. Thẩm quyền của Tòa án là gì?
Thẩm quyền của Tòa án là tập hợp những quy định pháp luật xác định rõ phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của từng cấp Tòa án. Thẩm quyền này quy định việc thụ lý, giải quyết và xét xử các vụ án, vụ việc thuộc các lĩnh vực Hình sự, Dân sự, Hôn nhân và Gia đình, Kinh doanh, Thương mại, Lao dộng và Hành chính theo đúng quy định pháp luật tố tụng. Đây chính là điều kiện pháp lý bắt buộc để đảm bảo hoạt động tố tụng được tiến hành một cách hợp pháp và chính xác. Nó giúp xác định rõ cấp Tòa án nào có trách nhiệm giải quyết từng vụ việc, phù hợp với tính chất, mức độ phức tạp cũng như phạm vi của vụ án, từ đó đảm bảo quyền lợi và công bằng cho các bên tham gia tố tụng
Thẩm quyền của Tòa án là điều kiện tiên quyết để Tòa án được phép thụ lý và giải quyết vụ việc. Nếu Tòa án nhận vụ việc vượt quá hoặc không thuộc thẩm quyền, quá trình tố tụng có thể bị coi là vi phạm nghiêm trọng, dẫn đến việc bản án, quyết định bị hủy bỏ khi giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Điều này giúp ngăn ngừa sự tùy tiện, bảo đảm sự công bằng, minh bạch trong hoạt động tư pháp.
2. Thẩm quyền cấp sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực (TAND Khu vực)
Trước khi có hiệu lực, cơ cấu tổ chức của Tòa án cấp sơ thẩm vẫn dựa trên mô hình Tòa án nhân dân cấp huyện, trong đó thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động được phân tán giữa nhiều đơn vị khác nhau. Tòa án nhân dân cấp huyện giữ vai trò xét xử sơ thẩm đối với phần lớn các vụ việc dân sự thông thường song song với sự tồn tại của các Tòa chuyên trách về kinh doanh, lao động hoặc các Tòa chuyên ngành khác, mà thẩm quyền có thể thuộc cấp huyện hoặc cấp tỉnh tùy theo từng loại vụ việc và giá trị tranh chấp. Cách phân chia này, mặc dù đáp ứng phần nào yêu cầu xử lý các loại vụ việc đa dạng, nhưng lại tạo ra sự phân mảnh về thẩm quyền và khó khăn trong công tác phân công, quản lý xét xử, dẫn đến tiềm ẩn nguy cơ chông chéo, thiếu đồng bộ trong thực tiễn xét xử.
Luật số 85/2025/QH15 đã có sự đổi mới căn bản trong tổ chức cấp xét xử sơ thẩm bằng việc thành lập Tòa án nhân dân khu vực (TAND Khu vực) thay thế cho Tòa án nhân dân cấp huyện và các Tòa chuyên trách cấp huyện. Sự thay đổi này không chỉ đơn thuần là việc đổi tên mà còn thể hiện sự chuyển dịch về cơ cấu tổ chức và thẩm quyền xét xử. Theo đó, TAND Khu vực được giao thẩm quyền sơ thẩm gần như toàn diện đối với tất cả các loại vụ việc dân sự, hộn nhân và gia đình kinh doanh thương mại, lao động không có yếu tố nước ngoài. Việc tập trung thẩm quyền xét xử sơ thẩm tại TAND Khu vực góp phần tạo nên sự thống nhất trong hoạt động xét xử nâng cao hiệu quả và tính chuyên nghiệp.
Tòa án nhân dân khu vực là cấp tòa án sơ thẩm có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm hầu hết các tranh chấp và yêu cầu dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động theo phạm vi địa giới hành chính mà Tòa án đó quản lý. Thẩm quyền này được quy định cụ thể tại Điều 35 và Điều 36 Bộ luật dân sự 2015, sửa đổi, bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15 như sau:
| Loại vụ việc | Thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của TAND khu vực | Điều luật |
| Dân sự | Các tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản, giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự, thừa kế, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Các yêu cầu về dân sự (tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, tuyên bố mất tích, ..). | Điều 26,27 |
| Hôn nhân và gia đình | Các tranh chấp về ly hôn, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, nhận cha/mẹ/con. Các yêu cầu về hôn nhân và gia đình (công nhận thuận tình ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật)... | Điều 28,29 |
| Kinh doanh, thương mại | Các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại thông thường (mua bán hàng hóa, dịch vụ, xúc tiến thương mại). Các yêu cầu về kinh doanh, thương mại, đặc biệt là yêu cầu tuyên bố phá sản.... | Điều 30,31 |
| Lao động | Các tranh chấp về kỷ luật lao động, bồi thường thiệt hại, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Các yêu cầu về lao động... | Điều 32,33 |
Lưu ý:
-TAND Khu vực không có thẩm quyền đối với các vụ việc có yếu tố nước ngoài hoặc các vụ việc được quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015) (thường liên quan đến tài sản ở nước ngoài, cần ủy thác tư pháp, hoặc có tính chất phức tạp cao) sẽ thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh.
- Trường hợp Biên giới (Khoản 4 Điều 35 BLTTDS 2015): TAND Khu vực vẫn giữ thẩm quyền đặc biệt đối với các tranh chấp và yêu cầu về hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài đơn giản phát sinh giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới.
3. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
3.1. Thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Việc ban hành Luật số 85/2025/QH15 đã đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án nhân dân, đặc biệt là thay đổi thẩm quyền sơ thẩm của TAND cấp tỉnh, Luật mới đã thu hẹp thẩm quyền xét xử sơ thẩm thông thường của TAND cấp tỉnh, đồng thời phân định rõ hơn các lĩnh vực chuyên sâu mà TAND cấp tỉnh được tập trung giải quyết. Những nội dung này quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15) và các Luật Tố tụng khác. Cụ thể như sau
Theo Luật số 85/2025/QH15, TAND cấp tỉnh không còn giải quyết sơ thẩm các vụ việc thông thường mà tập trung vào các lĩnh vực pháp lý đòi hỏi tính chuyên sâu cao, được quy định chủ yếu tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (sửa đổi) và các Luật Tố tụng khác. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Đây là những tranh chấp hoặc yêu cầu phát sinh trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, khi có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, hoặc cần phải thực hiện ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền nước ngoài. Những vụ việc này cần đòi hỏi am hiểu pháp luật quốc tế cũng những năng phối hợp các cơ quan tư pháp nước ngoài, do đó cần được giao cho cấp tỉnh với trình độ chuyên môn cao hơn theo quy định Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15)
Thứ hai, Tòa án nhân dân cấp tinh có thẩm quyền sơ thẩm đối với các yêu cầu liên quan đến phán quyết trọng tài, bao gồm yêu cầu hủy phán quyết trọng tài và yêu cầu đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc. Đây là thủ tục pháp lý đặc thù, liên quan đến hoạt động của trọng tài thương mại- một cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài tòa án được pháp luật công nhận. Việc giao thẩm quyền này cho Tòa án cấp tỉnh giúp đảm bảo tính khách quan và chuyên sâu trong việc giám sát hoạt động trọng tài theo quy định khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội.
Thứ ba, Luật số 85/2025/QH15 cũng quy định rằng Tòa án nhân dân cấp tỉnh có quyền lấy lên để giải quyết sơ thẩm những vụ việc vốn thuộc thẩm quyền của TAND khu vực, trong trường hợp xét thấy vụ việc có tính chất phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành hoặc có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội. Quy định này nhằm tăng tính linh hoạt trong tổ chức xét xử, đồng thời bảo đảm những vụ án đặc biệt quan trọng được giải quyết bởi những thẩm phán có trình độ chuyên môn cao hơn theo quy định Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15).
Tóm lại, việc thu hẹp phạm vi xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh chỉ còn giới hạn trong các vụ việc phức tạp, chuyên sâu theo Luật số 85/2025/QH15 là hoàn toàn phù hợp với xu hướng cải cách tư pháp hiện nay. Sự thay đổi này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng xét xử, tăng tính chuyên nghiệp của đội ngũ thẩm phán mà còn giúp hệ thống Tòa án hoạt động hiệu quả, hợp lý hơn trong việc phân bổ nguồn lực và xử lý công việc. Đây là bước đi cần thiết nhằm xây dựng một nền tư pháp hiện đại, chuyên nghiệp và phục vụ tốt hơn cho người dân.
3.2. Thẩm quyền phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Tòa án nhân dân cấp tỉnh là một cấp xét xử quan trọng trong hệ thống tư pháp Việt Nam. Một trong những nhiệm vụ cốt lõi của TAND cấp tỉnh là xét xử phúc thẩm - tức xem xét lại các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp dưới, khi có kháng cáo của đương sự hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát. Chức năng này được quy định trong các bộ luật tố tụng hiện hành, bao gồm Bộ luật Tố tụng Dân sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự và Luật Tố tụng Hành chính.
Theo Luật số 85/2025/QH15 - luật mới sửa đổi, bổ sung một số luật về tổ chức Tòa án, hệ thống Tòa án được sắp xếp lại theo hướng thành lập Tòa án nhân dân khu vực thay thế các TAND cấp huyện. Trong mô hình mới này, TAND cấp tỉnh vẫn giữ nguyên thẩm quyền phúc thẩm, đồng thời có vai trò kiểm tra, giám sát chất lượng xét xử của các Tòa án khu vực.
Trong tố tụng dân sự, theo Điều 374 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thấm các vụ án tranh chấp về hợp đồng, tài sản, hộn nhân, gia đình, lao động, thương mại... do TAND khu vực xét xử sơ thấm và có kháng cáo, kháng nghị.
Trong tố tụng hình sự, theo Điều 343 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, TAND cấp tỉnh xét xử phúc thấm các bản án sơ thẩm hình sự chưa có hiệu lực pháp luật khi bị cáo, người bị hại hoặc Viện kiểm sát kháng cáo, kháng nghị.
Trong tố tụng hành chính, theo Điều 236 Luật Tố tụng Hành chính 2015, TAND cấp tỉnh có thẩm quyền phúc thẩm đối với các vụ án hành chính do TAND cấp huyện hoặc khu vực xét xử sơ thẩm.
Sự thay đổi về mô hình tổ chức Tòa án theo Luật 85/2025 không làm thay đổi bản chất của thẩm quyền phúc thẩm, nhưng giúp tinh gọn hệ thống, tập trung nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm tại TAND khu vực, đồng thời nâng cao vai trò phúc thẩm của TAND cấp tỉnh trong việc bảo đảm bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
4. Thẩm quyền Tòa án nhân dân tối cao
Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) là cơ quan xét xử cao nhất trong hệ thống tư pháp, giữ vai trò giám sát tối cao và bảo đảm sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật trên toàn quốc. Theo khoản 1 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024, TANDTC có nhiệm vụ giám sát hoạt động xét xử của các Tòa án cấp dưới, bảo đảm các bản án, quyết định của hệ thống Tòa án đều có căn cứ pháp luật và được áp dụng thống nhất.
Một trong những thẩm quyền trọng yếu TANDTC là giám đốc thẩm và tái thẩm.Căn cứ Điều 370 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng Thẩm phán TANDTC có quyền xem xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa án cấp dưới khi phát hiện vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc khi có tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung quyết định. Đồng thời, theo điều 400 Bộ luật Dân sự 2015, TANDTC cũng có thẩm quyền tái thẩm nếu có xuất hiện tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án. Thẩm quyền này thể hiện rõ vai trò cao nhất của TANDTC trong việc khắc phục sai sót, bảo đảm công bằng và chính xác trong xét xử.
Căn cứ Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật Tổ chức TAND năm 2025, kể từ 1/7/2025, TANDTC kế thừa thẩm quyền của TANDCC đã chấm dứt hoạt động. Theo đó, TANDTC giải quyết đề nghị xem xét lại và kiến nghị về phá sản theo Luật phá sản 2014, đồng thời tiếp tục cá vụ việc thuộc thẩm quyền trước đây của TAND cấp cao.
Ngoài ra, TANDTC còn có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng tại TANDTC và tòa án cấp dưới theo quy định của các bộ luật tố tụng, nhằm bảo đảm tính minh bạch và khách quan trong hoạt động xét xử.
Tóm lại, TANDTC không chỉ là cơ quan xét xử cao nhất mà còn là trung tâm giám sát. hướng dẫn áp dụng pháp luật thống nhất, góp phần quan trọng trong việc bảo đảm công lý và quyền con người trong hoạt động tư pháp
Kết luận
Thẩm quyền của Tòa án là nền tảng pháp lý quan trọng đảm bảo hoạt động tố tụng được tiến hành đúng quy định, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng. Việc phân định rõ thẩm quyền theo loại việc, cấp xét xử và lãnh thổ không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả, tính chuyên nghiệp trong công tác xét xử mà còn là cơ sở đảm bảo sự công bằng, minh bạch trong hệ thống tư pháp Việt Nam. Với sự đổi mới tổ chức và phân cấp rõ ràng, đặc biệt qua Luật số 85/2025/QH15, hệ thống Tòa án ngày càng được củng cố và hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân. Mọi vướng mắc hoặc nhu cầu hỗ trợ pháp lý liên quan đến thẩm quyền Tòa án, người dân và tổ chức có thể liên hệ các cơ quan
Còn khúc mắc, liên hệ 1900.6162 hoặc gửi email tới: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Xin cảm ơn.