- 1. Cơ sở pháp lý quy định về việc trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm
- 2. Trường hợp bị cáo được trả tự do ngay tại phiên tòa sơ thẩm
- 2.1. Tòa án tuyên bố bị cáo không phạm tội
- 2.2. Tòa án miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo
- 2.3. Tòa án áp dụng hình phạt không phải là hình phạt tù
- 2.4. Bị cáo bị phạt tù nhưng thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời gian đã bị tạm giam
- 2.5. Bị cáo được hưởng án treo
- 3. Thời hạn tạm giam để xét xử sơ thẩm tối đa là bao lâu?
- Kết luận
Trong quá trình tố tụng hình sự, phiên tòa sơ thẩm là giai đoạn xét xử trọng tâm, nơi Hội đồng xét xử (HĐXX) đưa ra phán quyết cuối cùng về việc bị cáo có phạm tội hay không và áp dụng hình phạt tương ứng. Một trong những quyết định quan trọng mà HĐXX có thể đưa ra ngay tại phòng xử án là "trả tự do cho bị cáo".
Việc trả tự do này phải được thực hiện nghiêm ngặt theo các căn cứ pháp luật, đảm bảo quyền con người của bị cáo. Vậy, pháp luật quy định cụ thể những trường hợp nào bị cáo đang bị tạm giam sẽ được trả tự do ngay tại phiên tòa sơ thẩm?
1. Cơ sở pháp lý quy định về việc trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm
Khái niệm "trả tự do tại phiên tòa" được hiểu là việc HĐXX ra quyết định chấm dứt ngay lập tức biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo, dựa trên kết quả xét xử và phán quyết trong bản án.
Cơ sở pháp lý cốt lõi điều chỉnh vấn đề này được quy định tại Điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 và 2025 (BLTTHS 2015). Điều luật này liệt kê các trường hợp cụ thể mà HĐXX bắt buộc phải ra quyết định trả tự do cho bị cáo đang bị tạm giam nếu thuộc một trong các trường hợp đó.
Việc "trả tự do" theo Điều 328 BLTTHS 2015 với việc HĐXX ra quyết định "thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam" trong quá trình xét xử. Quyết định này được đưa ra khi HĐXX tuyên án và là kết quả của phán quyết cuối cùng về tội trạng hoặc hình phạt. Nó chấm dứt hoàn toàn việc giam giữ liên quan đến vụ án đó.
Ngoài ra, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử (trước khi mở phiên tòa), việc thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam cũng có thể được xem xét theo Điều 278 BLTTHS 2015. Tuy nhiên, thẩm quyền có sự khác biệt: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chỉ có quyền quyết định thay đổi các biện pháp như bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú; còn việc quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam trong giai đoạn này thuộc về Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án.
Điều này có ý nghĩa quan trọng về mặt chiến lược bào chữa: Luật sư và bị cáo không nhất thiết phải chờ đến khi tuyên án mới được trả tự do. Nếu có căn cứ cho thấy việc tạm giam là không còn cần thiết (ví dụ: bị cáo bệnh hiểm nghèo, chứng cứ đã đầy đủ không thể bị sai lệch), phía bị cáo có thể chủ động nộp đơn đề nghị HĐXX hoặc Chánh án Tòa án xem xét thay đổi biện pháp tạm giam sang các biện pháp khác như bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm.
2. Trường hợp bị cáo được trả tự do ngay tại phiên tòa sơ thẩm
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 328 BLTTHS 2015, Hội đồng xét xử phải tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo đang bị tạm giam, nếu bị cáo thuộc một trong 05 trường hợp sau đây:
2.1. Tòa án tuyên bố bị cáo không phạm tội
Đây là trường hợp HĐXX, sau khi xem xét toàn diện hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, kết luận bị cáo không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm.
Khi bị cáo đã được tuyên vô tội, việc tiếp tục giam giữ họ, dù chỉ thêm một phút, cũng là vi phạm nghiêm trọng quyền con người và quy định tố tụng. Do đó, HĐXX phải ra quyết định trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho họ.
Việc trả tự do trong trường hợp này không chỉ là sự khôi phục tự do, mà còn là cơ sở pháp lý trực tiếp để kích hoạt quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do bị oan sai. Theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, người bị tạm giam mà sau đó có bản án của Tòa án xác định là vô tội sẽ được Nhà nước bồi thường. Hiến pháp 2025 và Điều 31 BLTTHS 2015 cũng khẳng định quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự của người bị xét xử oan. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường thường là cơ quan tiến hành tố tụng đã ra quyết định trái pháp luật cuối cùng; ví dụ, nếu Viện kiểm sát đã ra cáo trạng truy tố và Tòa án tuyên vô tội, Viện kiểm sát sẽ là cơ quan chịu trách nhiệm bồi thường.
2.2. Tòa án miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo
Đây là hai trường hợp pháp lý hoàn toàn khác nhau nhưng đều dẫn đến kết quả chung là bị cáo không phải chấp hành hình phạt, do đó phải được trả tự do ngay.
Miễn TNHS (quy định tại Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015) có nghĩa là HĐXX xác định bị cáo có thực hiện hành vi phạm tội, nhưng do các căn cứ pháp lý đặc biệt, HĐXX quyết định không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ. Về hậu quả pháp lý, người được miễn TNHS không bị coi là có án tích.
Miễn hình phạt (quy định tại Điều 59 Bộ luật Hình sự 2015) có nghĩa là HĐXX kết tội bị cáo (tuyên bị cáo phạm tội), nhưng xét thấy có các điều kiện khoan hồng đặc biệt nên HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt. Về hậu quả pháp lý, người được miễn hình phạt bị coi là có án tích (đã bị kết án).
Điều kiện để được miễn hình phạt theo Điều 59 BLHS 2015 là rất chặt chẽ. Căn cứ theo phân tích pháp lý, bị cáo phải thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau :
- Phải có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 51 BLHS.
- Phải là người phạm tội lần đầu, giữ vai trò là người giúp sức trong vụ án đồng phạm và có vai trò không đáng kể (theo Khoản 2 Điều 54 BLHS).
- Đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn TNHS.
Như vậy, nếu bị cáo là người thực hành chính, chủ mưu, hoặc tái phạm, thì không đủ điều kiện để HĐXX xem xét miễn hình phạt, ngay cả khi có rất nhiều tình tiết giảm nhẹ.
2.3. Tòa án áp dụng hình phạt không phải là hình phạt tù
Mục đích chính của biện pháp tạm giam là để đảm bảo việc xét xử và thi hành án phạt tù. Nếu tại phiên tòa, HĐXX quyết định áp dụng các hình phạt khác không phải là tù giam, việc giam giữ không còn ý nghĩa.
Các hình phạt này bao gồm:
- Phạt tiền (khi phạt tiền là hình phạt chính).
- Cải tạo không giam giữ.
- Cảnh cáo.
Khi bản án tuyên một trong các hình phạt trên, bị cáo đang bị tạm giam phải được trả tự do ngay.
2.4. Bị cáo bị phạt tù nhưng thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời gian đã bị tạm giam
Pháp luật tố tụng hình sự quy định thời gian tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, theo nguyên tắc một ngày tạm giam bằng một ngày tù.
Ví dụ: Bị cáo A bị tạm giam 09 tháng. Tại phiên tòa sơ thẩm, HĐXX tuyên phạt bị cáo A 09 tháng tù. Như vậy, thời gian bị cáo A đã bị tạm giam bằng đúng thời hạn hình phạt tù. Tại thời điểm tuyên án, bị cáo được xem là đã chấp hành xong hình phạt. Do đó, HĐXX phải tuyên trả tự do ngay cho bị cáo A.
Điều này cũng áp dụng tương tự nếu thời gian tạm giam dài hơn mức án (ví dụ: tạm giam 10 tháng nhưng chỉ bị phạt 09 tháng tù).
Khả năng xảy ra trường hợp này phụ thuộc trực tiếp vào tổng thời gian tạm giam mà bị cáo đã phải chịu. Thời gian này bao gồm thời gian tạm giam ở giai đoạn điều tra và thời gian tạm giam ở giai đoạn chuẩn bị xét xử. Theo Khoản 2 Điều 278 BLTTHS 2015, thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Khoản 1 Điều 277. Bị cáo và luật sư cần theo dõi chặt chẽ tổng thời gian tạm giam này để đối chiếu với mức án dự kiến, vì đây là căn cứ khách quan (dựa trên con số) để HĐXX ra quyết định trả tự do
2.5. Bị cáo được hưởng án treo
Án treo (quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015) là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Khi HĐXX quyết định cho bị cáo hưởng án treo, bị cáo sẽ không phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam mà được giao về cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc để giám sát, giáo dục trong một thời gian thử thách.
Do không phải thi hành án tù giam, nên bị cáo đang bị tạm giam phải được HĐXX tuyên trả tự do ngay tại phiên tòa.
Tuy nhiên, việc xem xét cho hưởng án treo phải tuân thủ các điều kiện rất nghiêm ngặt, không chỉ dựa vào Điều 65 BLHS mà còn phải tuân thủ hướng dẫn chi tiết tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP. Theo đó, bị cáo phải thỏa mãn đồng thời 05 điều kiện tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP:
- Bị xử phạt tù không quá 03 năm.
- Có nhân thân tốt (được Nghị quyết định nghĩa rõ).
- Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ TNHS trở lên (trong đó ít nhất 01 tình tiết tại Khoản 1 Điều 51 BLHS) VÀ không có tình tiết tăng nặng TNHS (tại Khoản 1 Điều 52 BLHS). (Trường hợp có tình tiết tăng nặng, thì số tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng từ 02 tình tiết trở lên).
- Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định.
- Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù vì bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội.
Quan trọng hơn, Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP cũng quy định 06 trường hợp không được cho hưởng án treo, ngay cả khi có đủ 05 điều kiện trên. Các trường hợp này bao gồm :
- Người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi.
- Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị đề nghị truy nã.
- Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách.
- Người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội (trừ người dưới 18 tuổi).
- Người phạm tội nhiều lần (trừ người dưới 18 tuổi).
- Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm.
3. Thời hạn tạm giam để xét xử sơ thẩm tối đa là bao lâu?
Thời hạn tạm giam trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm được quy định tại Khoản 2 Điều 278 BLTTHS 2015, theo đó, thời hạn này không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Khoản Điều 277 BLTTHS 2015.
Cụ thể, thời hạn chuẩn bị xét xử (và thời hạn tạm giam tối đa tương ứng) trong giai đoạn này như sau :
| Loại tội phạm | Thời hạn chuẩn bị xét xử (Thời hạn tạm giam ban đầu) | Gia hạn (áp dụng cho vụ án phức tạp) | Tổng thời hạn tạm giam tối đa (Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử) |
| Tội phạm ít nghiêm trọng | 30 ngày | Không quá 15 ngày | 45 ngày |
| Tội phạm nghiêm trọng | 45 ngày | Không quá 15 ngày | 60 ngày (02 tháng) |
| Tội phạm rất nghiêm trọng | 02 tháng | Không quá 30 ngày | 03 tháng |
| Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng | 03 tháng | Không quá 30 ngày | 04 tháng |
Bảng trên thể hiện thời gian Tòa án được phép giam giữ bị cáo sau khi nhận hồ sơ từ Viện kiểm sát. Để tính tổng thời gian tạm giam, bị cáo và người nhà cần cộng thời gian này với thời gian tạm giam ở giai đoạn điều tra.
Ngoài ra, cần lưu ý Khoản 3 Điều 278 BLTTHS 2015, nếu đến ngày mở phiên tòa mà thời hạn tạm giam đã hết, HĐXX có quyền ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa để đảm bảo việc xét xử.
Kết luận
Việc trả tự do tại phiên tòa sơ thẩm là một quyết định pháp lý quan trọng, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nhưng cũng được quy định rất chặt chẽ tại Điều 32 BLTTHS 2015 và các văn bản hướng dẫn liên quan. Việc hiểu rõ 05 trường hợp này, cũng như các quy định về miễn TNHS, miễn hình phạt, điều kiện hưởng án treo, và thời hạn tạm giam, là rất quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tốt nhất cho bị cáo.
Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê