Thẩm quyền xét xử sơ thẩm là quyền năng pháp lý độc lập của Tòa án nhân dân có thẩm quyền để tiến hành xét xử lần đầu tiên toàn bộ nội dung vụ án hình sự. Đây là giai đoạn nền tảng, nơi Tòa án thực hiện chức năng xác định sự thật pháp lý, đưa ra phán quyết về việc có tội hay không có tội, và quyết định hình phạt hoặc các biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo. Pháp luật điều chỉnh thẩm quyền xét xử sơ thẩm được quy định chi tiết tại Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (BLTTHS) sửa đổi, bổ sung 2025. Việc xác lập thẩm quyền xét xử sơ thẩm là điều kiện tiên quyết cho tính hợp pháp của toàn bộ quá trình tố tụng. Nếu một Tòa án không có thẩm quyền mà vẫn tiến hành xét xử, bản án sơ thẩm được tuyên sẽ bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và có thể bị Tòa án cấp trên hủy bỏ tại giai đoạn phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm.

1. Khái niệm về thẩm quyền xét xử sơ thẩm

Xét cử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn trong tố tụng hình sự, trong đó Tòa án tiến hành việc xét xử lần đầu, toàn diện vụ án hình sự trên cơ sở cáo trạng của Viện kiểm sát được tiến hành theo các nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa làm cơ sở để ra các phán quyết về tội phạm, hình phạt và những vấn đề khác có liên quan đến vụ án một cách bình đẳng, công khai bảo vệ công lý, quyền con người và trật tự pháp luật.

Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là phạm vi, giới hạn dựa trên cơ sở phân định thẩm quyền xét xử giữa các loại tội phạm trong Bộ luật hình sự xét xử theo thẩm quyền tại  Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2025.

Đối với xét xử sơ thẩm, Tòa án có thẩm quyền xét xử trong phạm vi, giới hạn hành vi, tội danh, bị can trong cáo trạng của Viện kiểm sát Tòa án không thể xét xử những hành vi và những người không bị Viện kiểm sát truy tố trong bản cáo trạng. Việc xét xử những hành vi và những người không bị Viện kiểm sát truy tố trong bản cáo trạng là hành vi làm xâm phạm quyền công tố của Viện kiểm sát và vượt quá giới hạn, phạm vi của xét xử sơ thẩm. Việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm giữa các loại, cấp Tòa án không những bảo đảm sự phân công trách nhiệm rành mạch giữa các Tòa án mà còn bảo đảm sự ổn định, hiệu quả của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, hiệu quả kinh tế và chi phí trong hoạt động tố tụng hình sự với tình hình đấu tranh phòng ngừa tội phạm như hiện nay.

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được tiến hành sau khi Tòa án nhận được bản cáo trạng, hồ sơ vụ án mà Viện kiểm sát chuyển sang và kết thúc khi Tòa án ra bản án hoặc quyết định về các vấn đề của vụ án hình sự. Xét sử sơ thẩm mang tính chất bắt buộc đối với các vụ án hình sự

2. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm trong vụ án hình sự của Tòa án khu vực

Thẩm quyền xét xử sơ thẩm được phân cấp dựa trên loại tội danh và mức độ phức tạp của vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 268 BLTTHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2025 thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của tòa án được quy định như sau: "Tòa án nhân dân khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đến 20 năm tù." 

Quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực được xác lập trên cơ sở phân định theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm và mức cao nhất của khung hình phạt được Bộ luật Hình sự quy định. Theo đó, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với toàn bộ các loại tội phạm, bao gồm tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và cả đặc biệt nghiêm trọng, miễn là mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội danh đó không vượt quá 20 năm tù. Đây là một cách tiếp cận định lượng, bảo đảm việc phân cấp xét xử rõ ràng và thống nhất trên phạm vi toàn quốc.

Khái niệm “mức cao nhất của khung hình phạt” là tiêu chí pháp lý quan trọng để xác định thẩm quyền. Mỗi tội danh trong Bộ luật Hình sự được quy định theo các khung hình phạt khác nhau, với mức thấp nhất và mức cao nhất tương ứng. Khi mức cao nhất trong khung hình phạt không vượt quá 20 năm tù, vụ án sẽ thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực, bất kể tội danh đó được xếp vào loại tội phạm nào theo phân loại của Bộ luật Hình sự. Điều này có ý nghĩa quan trọng, bởi một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nhưng khung hình phạt tối đa không đến mức tù chung thân hoặc tử hình vẫn thuộc phạm vi giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực.

Quy định trên thể hiện xu hướng phân quyền mạnh mẽ và hợp lý hóa thẩm quyền xét xử trong hệ thống Tòa án. Bằng cách trao thẩm quyền rộng hơn cho Tòa án nhân dân khu vực, pháp luật hướng đến mục tiêu giảm tải cho Tòa án cấp tỉnh, đồng thời tạo điều kiện để các vụ án có tính chất phổ biến hoặc không quá phức tạp được giải quyết tại cấp gần với nhân dân nhất. Điều này góp phần nâng cao hiệu quả xét xử, rút ngắn thời gian giải quyết vụ án và tăng cường tiếp cận công lý cho người dân.

Bên cạnh đó, việc giao thẩm quyền xét xử các vụ án có mức hình phạt tối đa đến 20 năm tù cho Tòa án nhân dân khu vực cũng cho thấy sự đánh giá cao về năng lực và vai trò của cấp tòa này trong công tác xét xử. Tòa án khu vực không chỉ xét xử các tội phạm ít nghiêm trọng mà còn đảm nhận cả những vụ án có tính chất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng trong giới hạn luật định. Điều này phù hợp với định hướng cải cách tư pháp, xây dựng mô hình tòa án khu vực tinh gọn, chuyên nghiệp và có khả năng xử lý đa dạng các loại vụ án hình sự.

3. Thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp tỉnh, Tòa án quân sự khu vực, Tòa án quân sự cấp quân khu 

Căn cứ khoản 2, khoản 3, khoản 4 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với Tòa án cấp tỉnh, tòa án quân sự khu vực, tòa án quân sự cấp quân khu như sau: 

3.1. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh 

Căn cứ khoản 2 Điều 268 BLTTHS sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định:

"2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm những vụ án:

a) Vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực;

b) Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm; vụ án mà khi xử lý có ảnh hưởng đến chính trị, đối ngoại; vụ án mà người phạm tội là cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ cấp tỉnh trở lên, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc thiểu số.

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết điểm này." 

Khoản 2 Điều 268 quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh đối với hai nhóm vụ án: (a) các vụ án hình sự về tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực, tức là những tội danh có mức cao nhất của khung hình phạt vượt quá 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình, hoặc thuộc các trường hợp luật chuyên ngành quy định; và (b) các vụ án tuy thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm, hoặc các vụ án có yếu tố nhạy cảm như ảnh hưởng đến chính trị, đối ngoại, hoặc người phạm tội là cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ cấp tỉnh trở lên, người có chức sắc trong tôn giáo hay người có uy tín cao trong dân tộc thiểu số.

Việc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết điểm này nhằm bảo đảm việc xác định tính chất “phức tạp” hoặc “đặc biệt” của vụ án được thực hiện thống nhất, chặt chẽ và phù hợp thực tiễn xét xử.

3.2. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án quân sự khu vực 

Căn cứ khoản 3 Điều 268 BLTTHS sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định:

"3. Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ tội phạm, vụ án:

a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

b) Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;

c) Các tội quy định tại các điều 123, 125, 126, 227, 277, 278, 279, 280, 282, 283, 284, 286, 287, 288, 337, 368, 369, 370, 371, 399 và 400 của Bộ luật Hình sự;

d) Các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

đ) Vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài."

Qua đó, Tòa án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với các vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng, nhưng đồng thời loại trừ một số nhóm tội phạm đặc thù nhằm bảo đảm thẩm quyền này được áp dụng phù hợp với tính chất hệ thống tòa án quân sự.

Tòa án quân sự khu vực không xét xử các vụ án thuộc nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia; nhóm tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; các tội danh đặc biệt nghiêm trọng được liệt kê cụ thể theo Bộ luật Hình sự; các tội phạm thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam; và những vụ án có yếu tố nước ngoài như bị cáo, bị hại, đương sự hoặc tài sản liên quan ở nước ngoài. Phạm vi loại trừ này phản ánh yêu cầu bảo đảm thẩm quyền xét xử phù hợp với tính chất chính trị, đối ngoại, an ninh và mức độ phức tạp của vụ án, đồng thời dành thẩm quyền cho cấp tòa án quân sự cao hơn hoặc tòa án nhân dân có thẩm quyền tương ứng. 

3.3. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án quân sự cấp quân khu 

Căn cứ khoản 4 Điều 268 BLTTHS sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định:

"4. Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án:

a) Vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự khu vực;

b) Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ cấp tỉnh, Trung đoàn trưởng và tương đương trở lên, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc thiểu số." 

Như vậy, Tòa án quân sự cấp quân khu có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với hai nhóm vụ án: thứ nhất, các vụ án hình sự về tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự khu vực, tức là những vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng hoặc phức tạp vượt quá phạm vi xét xử của cấp khu vực; thứ hai, các vụ án tuy thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết khó đánh giá, khó thống nhất về tính chất pháp lý, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành hoặc có yếu tố nhạy cảm về chính trị — điển hình như trường hợp bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ cấp tỉnh, sĩ quan từ cấp Trung đoàn trưởng và tương đương trở lên, hoặc người có chức sắc tôn giáo hay uy tín cao trong cộng đồng dân tộc thiểu số.

Quy định này nhằm bảo đảm rằng các vụ án có tính chất phức tạp, nhạy cảm hoặc đặc biệt quan trọng được xét xử ở cấp tòa án có năng lực chuyên môn và thẩm quyền tương xứng, qua đó bảo đảm tính khách quan, chính xác và thận trọng trong hoạt động xét xử của hệ thống tòa án quân sự.

 Kết luận

Từ các quy định tại Điều 268 BLTTHS sửa đổi, bổ sung năm 2025 có thể thấy rằng hệ thống thẩm quyền xét xử sơ thẩm được tổ chức theo hướng phân cấp rõ ràng, bảo đảm tính hợp lý giữa tính chất, mức độ của tội phạm và năng lực xét xử của từng cấp tòa án. Tòa án nhân dân khu vực giữ vai trò xét xử phổ quát đối với hầu hết các loại tội phạm có mức hình phạt đến 20 năm tù; Tòa án nhân dân cấp tỉnh được giao thẩm quyền đối với những vụ án không thuộc thẩm quyền của cấp khu vực hoặc mang tính chất đặc biệt phức tạp, nhạy cảm, hoặc liên quan đến người phạm tội có vị trí xã hội cao. Trong khi đó, hệ thống tòa án quân sự được phân định theo cấp độ tương đồng: Tòa án quân sự khu vực xét xử các tội phạm thuộc phạm vi quân sự trừ những trường hợp đặc biệt hạn chế, còn Tòa án quân sự cấp quân khu đảm nhiệm các vụ án vượt quá giới hạn thẩm quyền của cấp khu vực hoặc có tính chất phức tạp, liên quan đến cán bộ quân đội và cán bộ chủ chốt ở cấp cao. Quy định này bảo đảm nguyên tắc thẩm quyền tương xứng, tính chuyên môn hóa và sự khách quan trong xét xử, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp và bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân.

Nếu bạn có các vướng mắc pháp lý nào hãy liên hệ ngay với Luật sư của Luật Minh Khuê để được tư vấn pháp luật. Quý khách hàng vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật qua số hotline: 1900.6162 để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời.