1. Quy định trước đây về biên bản phiên tòa dân sự

Biên bản phiên toà dân sự do thư kí phiên toà lập, viết bằng tiếng Việt, được lưu trong hồ sơ vụ án dân sự. Biên bản phiên toà dân sự là một trong những tài liệu quan trọng của hồ sơ vụ án dân sự mà viện kiểm sát, toà án cấp trên dựa vào để kiểm sát, giám đốc việc xét xử của toà án cấp dưới, giải quyết lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Theo quy định tại Điều 211 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005, bản phiên toà phải ghi đầy đủ các nội dung chính trong quyết định đưa vụ án ra xét xử quy định tại khoản 1 Điều 195 của Bộ luật này; mọi diễn biến tại phiên toà từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên toà; các câu hỏi, câu trả lời và phát biểu tại phiên toà. Sau khi kết thúc phiên toà, chủ toạ phiên toà phải kiểm tra biên bản và cùng với thư kí toà án kí vào biên bản đó. Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có quyền được xem biên bản phiên toà ngay sau khi kết thúc phiên toà, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên toà và kí xác nhận.

Ngoài việc ghi biên bản phiên toà, việc ghi âm, ghi hình về diễn biến phiên toà chỉ có thể tiến hành khi được sự đồng ý của hội đồng xét xử.

2. Quy định hiện nay về biên bản phiên tòa dân sự

Biên bản phiên tòa phản ánh mọi diễn biến của phiên tòa. Do đó, thư kí tòa án phải có mặt thường xuyên, liên tục tại phòng xử án để ghi biên bản. Biên bản phiên tòa là một trong những căn cứ quan trọng để viện kiểm sát, tòa án có thẩm quyền kiểm tra, kiểm sát lại việc xét xử của tòa án nên phải được ghi yào những tờ giấy riêng lưu vào ưong hồ sơ vụ án. Biên bản phiên tòa phải ghi đầy đủ các nội dung theo quy định tạí khoản 1 Điều 236 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 236 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, ngoài việc ghi biên bản phiên tòa, hội đồng xét xử có thể thực hiện việc ghi âm, ghi hình về diễn biến phiên tòa.

3. Nội dung biên bản phiên tòa theo quy định của pháp luật:

Một biên bản phiên tòa phải có đầy đủ nội dung sau

Điều 236: Biên bản phiên tòa:

1.Biên bản phiên tòa phải ghi đầy đủ các nội dung sau đây:

a) Các nội dung chính trong quyết định đưa vụ án ra xét xử quy định tại khoản 1 Điều 220 của Bộ luật này;

b) Mọi diễn biến tại phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên tòa;

c) Các câu hỏi, câu trả lời và phát biểu tại phiên tòa.

2. Ngoài việc ghi biên bản phiên tòa, Hội đồng xét xử có thể thực hiện việc ghi âm, ghi hình về diễn biến phiên tòa.

3. Sau khi kết thúc phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải kiểm tra biên bản và cùng với Thư ký phiên tòa ký biên bản đó.

4. Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có quyền được xem biên bản phiên tòa ngay sau khi kết thúc phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa và ký xác nhận.

Nội dung của một biên bản phiên tòa sẽ phải có các nội dung chính có trong quyết định của bản án của vụ án được đem ra xét xử phải có bao gồm:

- Ngày, tháng, năm ra quyết định;

- Tên Tòa án ra quyết định;

- Vụ án được đưa ra xét xử;

- Tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện quy định tại Điều 187 của Bộ luật này, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

-Họ, tên Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án; họ, tên Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dự khuyết (nếu có);

- Họ, tên Kiểm sát viên tham gia phiên tòa; họ, tên Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có);

-Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;

- Xét xử công khai hoặc xét xử kín;

- Họ, tên người được triệu tập tham gia phiên tòa.

Ngoài ra thì nội dung biên bản cũng phải thể hiện được mọi diễn biến tại phiên tòa từ khi phiên tòa bắt đầu đến khi kết thúc, các câu hỏi của luật sư, của thẩm phán, và các câu trả lời của nguyên đơn cũng như bị đơn phát biểu tại phiên tòa. Hội đồng xét xử cũng có thể sử dụng hình thức ghi âm, ghi hình diễn biến phiên tòa không nhất thiết phải dùng hình thức duy nhất là ghi biên bản phiên tòa. Để đảm bảo nội dung của biên bản phiên tòa thì sau khi kết thúc phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải kiểm tra biên bản và cùng thư ký phiên tòa ký vào biên bản này. Ngay sau kết thúc phiên tòa kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng như nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền và lợi ích liên quan có quyền xem nội dung biên bản phiên tòa cũng như có yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung và biên bản tòa và ký xác nhận vào nội dung biên bản phiên tòa.

4. Một số quy định chung về phiên tòa xét xử:

4.1. Yêu cầu chung của phiên tòa sơ thẩm:

Phiên tòa sơ thẩm phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc trong giấy báo mở lại phiên tòa trong trường hợp phải hoãn phiên tòa. Địa điểm của phiên tòa sẽ được tổ chức tại trụ sở Tòa án hoặc có thể ngoài trụ sở của Tòa án nhưng phải đảm bảo tính trang nghiêm và hình thức phòng xử án có Quốc huy của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được treo chính giữa trên phòng xử án và phía trên chỗ ngồi của Hội đồng xét xử, trong phòng xử án phải có các khu vực được bố trí riêng cho Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, những người tham gia tố tụng khác và người tham dự phiên tòa.

4.2. Xét xử trực tiếp, bằng lời nói :

Trong phiên tòa xét xử Tòa án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên tòa; hỏi và nghe trả lời câu hỏi; xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập được; điều hành và nghe tranh luận giữa các đương sự; nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát. Việc xét xử này bằng lời nói và được tiến hành tại phòng xử án.

4.3 Sự có mặt của đương sự , người đại diện , người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:

Trong phiên tòa xét xử Tòa án sẽ triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Trong trường hợp hoãn phiên tòa thì Tòa án có trách nhiệm phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự . Trong trường hợp Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:

- Trường hợp thứ nhất nếu nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Trong trường hợp này nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.

- Trường hợp thứ hai bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.

- Trường hợp thứ ba nếu bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;

- Trường hợp thứ tư người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó theo quy định của pháp luật.

-Trường hợp thứ năm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

4.4. Nội quy của phiên tòa theo quy định của pháp luật:

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự khi vào phòng xử án, mọi người đều phải chấp hành việc kiểm tra an ninh của lực lượng có trách nhiệm bảo vệ phiên tòa. Nghiêm cấm mang vào phòng xử án vũ khí, hung khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, đồ vật cấm lưu hành, truyền đơn, khẩu hiệu và tài liệu, đồ vật khác ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của phiên tòa, trừ vật chứng của vụ án phục vụ cho công tác xét xử hoặc vũ khí, công cụ hỗ trợ được người có thẩm quyền mang theo để làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa.Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án phải xuất trình giấy triệu tập, giấy mời, các giấy tờ có liên quan khác cho Thư ký phiên tòa tại bàn thư ký chậm nhất là 15 phút trước giờ khai mạc phiên tòa và ngồi đúng vị trí trong phòng xử án theo hướng dẫn của Thư ký phiên tòa; trường hợp đến muộn thì phải xuất trình giấy triệu tập, giấy mời, các giấy tờ có liên quan khác cho Thư ký phiên tòa thông qua lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa. Nếu có nhà báo tham dự phiên tòa để đưa tin về diễn biến phiên tòa phải chấp hành sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa về khu vực tác nghiệp. Nhà báo ghi âm lời nói, ghi hình ảnh của Hội đồng xét xử phải được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa. Việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh của đương sự, người tham gia tố tụng khác phải được sự đồng ý của họ. Mọi người tham dự phiên tòa phải có trang phục nghiêm chỉnh; có thái độ tôn trọng Hội đồng xét xử, giữ trật tự và tuân theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa. Không đội mũ, nón, đeo kính màu trong phòng xử án, trừ trường hợp có lý do chính đáng và được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa; không sử dụng điện thoại di động, không hút thuốc, không ăn uống trong phòng xử án hoặc có hành vi khác ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của phiên tòa. Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án phải có mặt tại phiên tòa trong suốt thời gian xét xử vụ án, trừ trường hợp được chủ tọa phiên tòa đồng ý cho rời khỏi phòng xử án khi có lý do chính đáng. Người dưới mười sáu tuổi không được vào phòng xử án, trừ trường hợp được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa. Mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án và khi tuyên án, trừ trường hợp đặc biệt được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa. Chỉ những người được Hội đồng xét xử đồng ý mới được hỏi, trả lời hoặc phát biểu. Người hỏi, trả lời hoặc phát biểu phải đứng dậy, trừ trường hợp vì lý do sức khỏe được chủ tọa phiên tòa đồng ý cho ngồi để hỏi, trả lời, phát biểu.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, tố tụng dân sự về biên bản phiên tòa dân sự sơ thẩm, quy định chung trong phiên tòa cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê