1.Xử lý vật chứng khi xét xử vụ án hình sự – Bất cập và kiến nghị

ThS. HÀ THÁI THƠ (TAND tỉnh Hậu Giang) - Khi xét xử vụ án hình sự (VAHS), ngoài việc xem xét đến vấn đề tội danh, hình phạt, trách nhiệm dân sự, thì xử lý vật chứng luôn là một nội dung không thể thiếu trong phần nghị án và quyết định trong bản án. Tuy nhiên, trên thực tế này sinh vấn đề áp dụng pháp luật về xử lý vật chứng không được thống nhất.

1.Khái quát về vật chứng và xử lý vật chứng

Vật chứng trong VAHS là vật mang dấu vết của tội phạm, vật dùng để chứng minh hành vi phạm tội và các tình tiết khác trong vụ án. Trong một VAHS, Cơ quan Điều tra (CQĐT) thu thập rất nhiều tài liệu, đồ vật khác nhau. Tuy nhiên, không phải tài liệu, đồ vật nào cũng là vật chứng trong vụ án. Nếu tài liệu, đồ vật thu thập trong vụ án không phải là vật chứng và không thuộc trường hợp cấm lưu hành, thì đương nhiên phải trả lại. Còn nếu tài liệu, đồ vật là vật chứng, thì phải xem xét tịch thu nộp ngân sách Nhà nước (NSNN), tịch thu tiêu hủy hoặc trả lại cho chủ sở hữu. Do vậy, cần phải xác định rõ tài liệu, đồ vật nào là vật chứng, tài liệu, đồ vật nào không phải là vật chứng để có cơ sở xem xét, xử lý.

Căn cứ để xác định và xử lý vật chứng trước tiên là các quy định tại Điều 46, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015 và các quy định tại Điều 89, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) 2015.

Theo đó, về nguyên tắc, vật chứng trong VAHS phải được xem xét và xử lý theo quy định. Tuy nhiên, trong VAHS, CQĐT thường thu thập rất nhiều tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án, nhưng không phải tài liệu, đồ vật nào cũng là vật chứng. Như vậy, trong một vụ án, có thể chia tài liệu, đồ vật thành 02 nhóm là vật chứng và vật không phải vật chứng. Ngoài ra, nếu căn cứ vào chủ thể sở hữu, chiếm hữu, thì có thể chia thành 02 nhóm là vật thuộc sở hữu của bị cáo và vật thuộc sở hữu, quản lý hợp pháp của người khác. Để giải quyết triệt để tài liệu, đồ vật trong một VAHS, cần phải kết hợp 02 cách phân chia trên để tạo thành 04 trường hợp xử lý như sau:

– Vật chứng thuộc quyền sở hữu của bị cáo: Xử lý bằng cách bị tịch thu tiêu hủy hoặc tịch thu nộp NSNN;

– Vật chứng thuộc quyền sở hữu, quản lý hợp pháp của người khác: Về nguyên tắc là phải trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp; nếu chủ sở hữu có lỗi trong việc quản lý tài sản, thì có thể bị tịch thu nộp NSNN;

– Vật không phải vật chứng thuộc quyền sở hữu của bị cáo: Trả lại cho bị cáo;

– Vật không phải vật chứng thuộc quyền sở hữu, quản lý hợp pháp của người khác: Trả lại cho chủ sở hữu.

Lưu ý: Trong 04 trường hợp trên, nếu là vật thuộc trường hợp Nhà nước cấm lưu hành, thì không phân biệt là vật chứng hay không phải vật chứng, của bị cáo hay không phải của bị cáo, đều phải bị xem xét tịch thu nộp NSNN hoặc tịch thu tiêu hủy; Vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lại thì giao cho tổ chức chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định.

Về thẩm quyền xử lý vật chứng: Về nguyên tắc, vụ án kết thúc ở giai đoạn nào, thì cơ quan đó có trách nhiệm ra quyết định xử lý vật chứng. Ví dụ: Vụ án đình chỉ ở giai đoạn điều tra, thì CQĐT sẽ xử lý, vụ án đình chỉ ở giai đoạn truy tố, thì Viện kiểm sát xử lý, vụ án đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, thì Chánh án ra quyết định xử lý, nếu tại phiên tòa, thì Hội đồng xét xử xử lý.

Tuy nhiên, cần lưu ý ngoại lệ đối với vật chứng là loại mau hỏng hoặc khó bảo quản, thì được bán ngay theo quy định của pháp luật, trường hợp không bán được thì tiêu hủy; Vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai, thì có thể xử lý ngay mà không phải chờ đến khi kết thúc vụ án.

2.Một số bất cập trong việc xử lý vật chứng khi xét xử các VAHS

Các quy định trên cho thấy, về cơ bản, vật chứng và xử lý vật chứng được quy định tương đối chặt chẽ. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy, việc xác định vật chứng nào là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội và vật chứng nào không phải là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội đôi khi còn lúng túng. Vấn đề này, chưa được các cơ quan tiến hành tố tụng trung ương quan tâm, hướng dẫn, nên đã xảy ra tình trạng các địa phương khác nhau có cách đánh giá và xử lý vật chứng khác nhau hoặc ở các cấp xét xử khác nhau, lại có cách nhận thức khác nhau về cùng một vật chứng và có kết quả xử lý khác nhau, dẫn đến phải hủy án hoặc sửa án về phần vật chứng. Điều này làm cho việc áp dụng pháp luật về xử lý vật chứng không được thống nhất.

Xin nêu ra ví dụ cụ thể sau để minh họa: Nguyễn Thị Kim L cùng đồng bọn bị xử lý về hành vi đánh bạc. Theo đó, vào khoảng 22 giờ ngày 22/02/2017, Huỳnh Thị P, Nguyễn Thị Kim L, Hồ Xuân H, Ngô Thị C và Lục Chánh S cùng một số người khác có hành vi đánh bài ăn thua bằng tiền với nhau, thì bị bắt quả tang, thu giữ được trên chiếu bạc tiền sử dụng vào việc đánh bạc cùng nhiều tài sản khác. Trong đó, có thu giữ xe mô tô của Huỳnh Thị P, xe mô tô của Nguyễn Thị Kim L, xe mô tô của Hồ Xuân H, xe mô tô của Lục Chánh S, xe mô tô của Ngô Thị C là phương tiện mà các bị cáo đi đến sòng bạc và gửi xe bên ngoài, sau đó vào đánh bạc.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2017/HS-ST ngày 01/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố S và Bản án hình sự phúc thẩm số 359/2017/HS-PT ngày 12/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh ĐT về phần xử lý vật chứng tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với 05 chiếc xe thu giữ của bà P, bà L, bà H, bà C và anh S. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 04/2019/HS-GĐT ngày 19/02/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên hủy một phần Bản án hình sự phúc thẩm số 359/2017/HS-PT ngày 12/12/2017 và Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2017/HS-ST ngày 01/9/2017 về phần xử lý vật chứng đối với 05 chiếc xe thu giữ trên.

Tại Bản án số 25/2019/HS-ST ngày 22/5/2019 của Tòa án nhân dân thành phố S đã xét xử lại vụ án trên và nhận định: “Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thì những “Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội” mới tịch thu sung quỹ Nhà nước. Do đó, đối với 05 chiếc xe bị thu giữ không được dùng làm công cụ, phương tiện để thực hiện phạm tội nên không thuộc trường hợp tịch thu sung quỹ Nhà nước”.

Như vậy, cùng là xe mô tô dùng để đi đánh bạc, nhưng cấp sơ thẩm và phúc thẩm cho rằng, đó là phương tiện dùng vào việc phạm tội, nên tịch thu; nhưng cấp giám đốc thẩm lại xác định không phải là phương tiện dùng vào việc phạm tội, nên không tịch thu. Sự khác biệt này xuất phát từ hai quan điểm nhận thức: Quan điểm thứ nhất cho rằng, các bị cáo không thể đến địa điểm đánh bạc nếu không có xe, do đó, xe máy phải là phương tiện dùng vào việc phạm tội và phải bị tịch thu; Quan điểm thứ hai lại cho rằng, phương tiện dùng vào việc phạm tội phải là một yếu tố của cấu thành tội phạm, trong tình huống này có hay không có xe mô tô, thì các bị cáo vẫn có thể thực hiện được hành vi phạm tội.

Đây chỉ là một trong số rất nhiều trường hợp việc xác định như thế nào là vật chứng là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Vấn đề này cũng thường xảy ra ở những vụ án cố ý gây thương tích, khi mà các bị cáo dùng xe mô tô đi đến địa điểm đánh nhau xong rồi trở về. Có Tòa án cho rằng, đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội, nên tịch thu; nhưng có Tòa án xác định đây không phải là phương tiện dùng vào việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo. Hoặc các vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ có trường hợp tịch thu xe gây tai nạn, nhưng lại có Tòa án lại quyết định trả cho bị cáo.

Bất cập về xử lý vật chứng đã được thể hiện rõ qua hai dự thảo án lệ mà Tòa án nhân dân tối cao vừa công bố để tiếp thu ý kiến. Cụ thể là, dự thảo án lệ số 01 năm 2019 có nêu ra tình huống xử lý vật chứng là tài sản chung của vợ chồng và dự thảo án lệ số 03 năm 2019 có nêu ra tình huống xử lý vật chứng là tài sản đang bị thế chấp ở các tổ chức tín dụng[1].

Thực tiễn trên cho thấy, vấn đề áp dụng các quy định của BLHS và BLTTHS để xác định như thế nào là vật dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội và phải xử lý như thế nào còn rất khó khăn. Do đó, cần thiết phải có các văn bản hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về nguyên tắc, phương pháp xác định và xử lý vật chứng, cũng như những tình huống xử lý vật chứng cụ thể, để từ đó thống nhất trong việc áp dụng pháp luật.

3.Một số kiến nghị khi áp dụng pháp luật về xử lý vật chứng

3.1. Về quan điểm xử lý

3.1.1. Vật chứng là xe máy, xe ô tô thuộc quyền sở hữu của bị cáo

Thực tiễn xét xử cho thấy, rất nhiều vụ án có vật chứng là xe máy hoặc xe ô tô thuộc quyền sở hữu của bị cáo. Tuy nhiên, các Tòa án khác nhau lại có cách xử lý khác nhau về loại vật chứng này.

Ví dụ: Trong vụ án đánh bạc, bị cáo dùng xe máy để đi đến địa điểm đánh bạc, cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã tịch thu xe máy nộp NSNN. Cấp giám đốc thẩm hủy án để xét xử sơ thẩm lại về phần vật chứng theo hướng trả lại cho các bị cáo.

Trong ví dụ đã nêu ở trên, cần phải xác định đây có phải là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội hay không? Nếu là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội thì có thể tịch thu nộp NSNN, ngược lại thì xem xét trả lại cho bị cáo. Mấu chốt của vấn đề là “xe máy, xe ô tô phải được dùng vào việc phạm tội” thì mới gọi là công cụ, phương tiện phạm tội. Tức là, việc sử dụng xe máy, xe ô tô có liên hệ mật thiết với tội phạm, nếu không có xe thì không thể hoàn thành tội phạm trong tình huống cụ thể đó. Ngược lại, nếu xe máy chỉ là phương tiện di chuyển để đưa đến địa điểm phạm tội, thì xác định là phương tiện nhưng không dùng vào việc phạm tội, nên phải trả lại cho bị cáo. Cụ thể như sau:

Nếu bị cáo dùng xe máy, hoặc các loại xe khác để đi đến địa điểm đánh nhau, gây thương tích cho bị hại hoặc giết người, sau đó dùng xe quay về nhà thì không tịch thu nộp NSNN mà trả lại cho bị cáo. Vì trường hợp này, vật chứng không phải là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Nếu bị cáo dùng xe máy cố ý đâm, đụng vào người khác gây thương tích thì xe máy là công cụ dùng vào việc phạm tội; nếu các bị cáo dùng xe máy vừa chạy xe và vừa đánh, bắn giết nhau thì đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội cần phải tịch thu nộp NSNN.

Tương tự, xe máy được thu giữ trong vụ án đánh bạc, tổ chức đánh bạc thì cũng nên làm rõ: Nếu chỉ dùng xe máy đi đến địa điểm đánh bạc và đi về thì phải trả lại; nếu vừa chạy xe vừa đánh bạc trên xe (ô tô), hoặc có ý thức là chạy xe đến địa điểm đánh bạc để hết tiền có thể cầm cố, lấy tiền đó tiếp tục đánh bạc thì tịch thu nộp NSNN. Hoặc có trường hợp người tổ chức đánh bạc dùng xe máy để đưa đón con bạc từ điểm hẹn đến sòng bạc thì đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội phải bị tịch thu.

Xe máy, ô tô dùng để vận chuyển hàng cấm, vận chuyển ma túy thì trong tình huống cụ thể này nếu không có xe máy, ô tô thì tội phạm đã không xảy ra nên xác định là phương tiện dùng vào việc phạm tội. Cần tịch thu nộp NSNN.

Đối với xe máy trong vụ án tai nạn giao thông thì việc gây ra tai nạn là vô ý, do đó về ý thức chủ quan của bị cáo xe máy không phải là công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội, do vậy không tịch thu, tiêu hủy.

3.1.2. Vật chứng là tài sản chung

Nếu vật chứng là tài sản chung, thì cần phải làm rõ là tài sản chung hợp nhất hay tài sản chung theo phần. Nếu tài sản chung theo phần mà xác định tài sản đó dùng vào việc phạm tội, thì tịch thu nộp NSNN phần tài sản của bị cáo. Nếu là tài sản chung hợp nhất, thì cần làm rõ tài sản chung hợp nhất có phân chia được hay không? Nếu tài sản chung hợp nhất không phân chia được và là tài sản duy nhất của gia đình, nếu bị tịch thu, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến các thành viên trong gia đình, thì xem xét không tịch thu. Thay vào đó, có thể áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền (nếu điều luật có quy định hình phạt bổ sung).

3.1.3. Vật chứng là tài sản đã được bảo đảm

Thực tế, bị cáo dùng tài sản để cầm cố, thế chấp (hợp pháp) nhưng lại dùng tài sản đó để làm công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Ví dụ như tình huống bị cáo mua xe ô tô trả góp hàng tháng cho ngân hàng và dùng xe này để vận chuyển hàng cấm, vận chuyển ma túy… Tình huống này không nên tịch thu toàn bộ tài sản vì không đảm bảo quyền lợi của bên cầm cố, thế chấp nhưng cũng không thể giao toàn bộ tài sản cho bên cầm cố, thế chấp (vì giá trị tài sản cầm cố, thế chấp cao hơn nghĩa vụ phải thực hiện). Do vậy, cần giao tài sản cho cơ quan thi hành án kê biên xử lý theo quy định, phần dư còn lại (nếu có) sau khi đã thanh toán xong nghĩa vụ bảo đảm thì cơ quan thi hành án có trách nhiệm kê biên nộp NSNN. Xử lý như vậy, một mặt vừa đảm bảo quyền lợi của bên nhận tài sản đảm bảo, một mặt vừa xử lý được trách nhiệm của bị cáo khi sử dụng tài sản làm công cụ, phương tiện phạm tội.

3.1.4. Vật chứng mà chủ sở hữu không nhận lại

Trong một số vụ án, vật chứng là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội là thuộc sở hữu của bị cáo, của người bị hại, người liên quan… tuy nhiên, vì nhiều lý do mà họ không nhận lại tài sản. Do vậy, tại phiên tòa, cần làm rõ ý kiến của họ có muốn nhận lại tài sản hay không? Trường hợp chủ sở hữu không nhận lại tài sản, thì Hội đồng xét xử xem xét, nếu có giá trị sử dụng, thì tịch thu nộp NSNN, nếu không có giá trị sử dụng thì tịch thu tiêu hủy.

3.1.5. Tài sản do phạm tội mà có

Vật chứng là tiền, tài sản do mua bán, đổi chác từ tài sản phạm tội. Ví dụ: Bị cáo dùng tiền đi trộm cắp để mua xe. Tài sản có được thông qua đánh bạc rồi mua nhà, đất.

Trong trường hợp này, cần xác định tài sản gốc có thuộc quyền sở hữu, quản lý hợp pháp của bị hại, người liên quan hay không? Ví dụ: Bị cáo trộm xe máy bán lấy tiền mua điện thoại. Nếu có thì phải ưu tiên kê biên bán đấu giá để trả lại giá trị cho bị hại, người liên quan, nếu bị cáo không nộp khắc phục đủ thiệt hại trước khi Tòa án tuyên án. Nếu bị hại, người liên quan từ chối nhận, thì tịch thu, nộp NSNN. Nếu bị hại, người liên quan tuyên bố cho bị cáo, thì ghi nhận ý kiến của bị hại, người liên quan trả cho bị cáo.

Trong trường hợp tài sản trong các vụ án không có bị hại, thì xem xét tịch thu nộp NSNN (ví dụ: tiền do đánh bạc, bán ma túy…)

3.1.6. Một số tài liệu, đồ vật khác

Về nguyên tắc, vật chứng phải bị xử lý bằng cách tịch thu hoặc trả lại. Tuy nhiên, có một số vật chứng như, băng ghi âm, đĩa ghi hình, hình ảnh là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Ví dụ: Dùng hình ảnh khỏa thân của bị hại rải khắp phố nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm; thư tay trao đổi giữa bị cáo và bị hại thể hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo… một số Tòa án tuyên tịch thu, tiêu hủy đối với chứng cứ này là không đúng. Trường hợp này, phải tịch thu, lưu vào hồ sơ vụ án. Vì các chứng cứ này bị tiêu hủy sẽ gây khó khăn cho công tác giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án (nếu có).

3.2. Về kỹ năng áp dụng quy định về xử lý vật chứng

Để đảm bảo tài liệu, đồ vật trong vụ án được xem xét một cách toàn diện, không bỏ sót và xử lý phù hợp với quy định của pháp luật, thì cần phải thực hiện các bước sau đây:

Bước 1. Thống kê tài liệu, đồ vật cần xử lý

Nghiên cứu kỹ hồ sơ và rà soát với biên bản bắt người, biên bản khám xét, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; lệnh nhập kho vật chứng để đảm bảo xem xét hết tất cả các tài liệu, đồ vật có trong hồ sơ vụ án.

Ví dụ: Có vụ án, Hội đồng xét xử chỉ xem xét đến lệnh nhập kho vật chứng của CQĐT lập mà không xem xét đến các biên bản tiếp nhận tài liệu, đồ vật phát sinh trong giai đoạn truy tố, xét xử, nên khi quyết định trong bản án, thì lại thiếu sót đối với các tài liệu này.

Bước 2. Làm rõ nguồn gốc, chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp của tài sản

Song song với việc xác định đồ vật, tài liệu, thì phải làm rõ nguồn gốc của đồ vật, tài liệu để xác định thuộc quyền sở hữu của ai, ai đang quản lý để trường hợp giao trả thì phải đúng chủ thể.

Ví dụ: Vụ án trộm cắp tài sản, bị cáo trộm được rất nhiều tài sản của nhiều bị hại. Do vậy, trong các biên bản hỏi cung, biên bản ghi lời khai của bị hại, cần xác định mô tả đặc điểm của tài sản, để có cơ sở trả lại tài sản cho đúng chủ sở hữu.

Bước 3. Tiến hành phân loại vật được xác định là vật chứng và vật không phải là vật chứng

Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án. Những đồ vật, tài liệu còn lại không thuộc các trường hợp nêu trên, thì không phải là vật chứng.

Ví dụ: Trong vụ án về cố ý gây thương tích, quá trình khám nghiệm hiện trường, CQĐT thu được quần áo, gạch đá, dao, ống típ sắt, bàn ghế… Như vậy, cần căn cứ vào lời khai của các bị cáo, bị hại, người làm chứng, để xác định vật trực tiếp dùng vào việc phạm tội: bị cáo dùng gạch, đá ném vào bị hại gây thương tích thì xác định là vật chứng, còn lại những vật dụng khác mặc dù xuất hiện tại hiện trường, nhưng không phải là vật chứng.

Bước 4. Xác định xem tài liệu, đồ vật nào đã xử lý

Nếu tài liệu, đồ vật đã được CQĐT, Viện kiểm sát xử lý trong giai đoạn điều tra, truy tố, thì không xem xét.

Bước 5. Tiến hành đánh giá và xử lý theo quy định

Tiến hành xem xét từng vật chứng và xử lý như phân tích ở mục 2. Tinh thần chung là, vật cấm lưu hành, công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, tiền hoặc tài sản do phạm tội mà có trong vụ án không có bị hại, thì mới xem xét tịch thu, tiêu hủy. Còn các trường hợp còn lại, nếu không có căn cứ rõ ràng, thì nên xem xét trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp tài sản đó.

Trên đây là việc xử lý vật chứng trong những tình huống cụ thể, trên thực tế còn rất nhiều tình huống khác mà Hội đồng xét xử phải xem xét xử lý vật chứng, nhưng về nguyên tắc chung là phải trên cơ sở các quy định của BLHS, tố tụng hình sự và cũng phải xem xét đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản, người bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra./.

Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai tiến hành tiêu hủy vật chứng của một số vụ án hình sự đã có hiệu lực pháp luật. Ảnh: TCTHADS-BTP

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

2. Chế định xóa án tích trong luật hình sự, vướng mắc và kiến nghị

ĐẶNG DUY THANH (VKSND thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang) - Xóa án tích là một trong những chế định quan trọng trong luật hình sự Việt Nam. Quy định về xóa án tích ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người bị kết án vì trong một số trường hợp nếu người bị kết án thuộc trường hợp có án tích nhưng chưa được xóa án tích là một trong những cơ sở để định tội, định khung hình phạt hoặc quyết định hình phạt.

Bộ luật Hình sự 2015 ra đời với nhiều sửa đổi liên quan đến xóa án tích đối với người bị kết án, như quy định các trường hợp bị kết án nhưng không có án tích, rút ngắn thời gian xóa án tích, cách tính thời hạn xóa án tích cũng như thủ tục pháp lý thuận lợi hơn cho người bị kết án, giúp người phạm tội tích cực cải tạo tốt, chấp hành tốt pháp luật, sớm tái hòa nhập cộng đồng trở thành công dân tốt cho xã hội.

1.Quy định của pháp luật

1.1.Các trường hợp không bị coi là có án tích

Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt (theo quy định tại khoản 2 Điều 69 BLHS).

Người bị kết án là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đối với mọi trường hợp phạm tội (theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 107 BLHS).

Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng với lỗi vô ý (theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 BLHS).

Người bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại Mục 3 Chương XII Bộ luật hình sự.

1.2. Điều kiện để được xóa án tích

Theo quy định tại khoản 2 Điều 70 BLHS quy định: Người bị kết án đương nhiên xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây: 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo; 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; 07 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Thời hạn xóa án tích căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên và thời điểm tính thời hạn xóa án tích được tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách của án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án. Tuy nhiên trong thời hạn quy định này cần phải chấp hành xong các quyết định còn lại có trong bản án bao gồm cả hình phạt bổ sung.

Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 73 BLHS quy định: Người bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành.

2.Khó khăn trong thực tiễn

Thực tiễn áp dụng quy định về xóa án tích còn nhiều cách hiểu và quan điểm khác nhau, tác giả đưa ra vụ án cụ thể như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 14/12/2019, Lê Văn C nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên chuẩn bị dao, bao nylon, đèn pin đến vườn mít của bà Nguyễn Thị D dùng dao cắt trộm 02 trái mít Thái rồi bỏ vào bao và đem về nhà cất giấu. Đến sáng cùng ngày, C dùng xe đạp chở mít đi bán, trên đường đi thì bị Công an tạm giữ cùng tang vật. Kết quả định giá tài sản kết luận 02 trái mít bị mất trộm trị giá 576.700 đồng.

Quá trình xác minh nhân thân của Lê Văn C thể hiện: Vào ngày 19/9/2017, Lê Văn C bị Tòa án xử 12 tháng cải tạo không giam giữ về hành vi trộm cắp tài sản. Chấp hành xong bản án ngày 19/9/2018, tính đến ngày 19/9/2019 thì được xóa án tích.

Ngày 05/6/2019 trong khi chưa được xóa án tích, Lê Văn C tiếp tục phạm tội trộm cắp 02 con gà trị giá 400.000 đồng. Đến ngày 29/11/2019 bị Tòa án xử 06 tháng tù cho hưởng án treo. Bản án này bị Viện kiểm sát kháng nghị và đang trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm. Đến ngày 14/12/2019, C tiếp thục thực hiện hành vi phạm tội trộm 02 trái mít trị giá 576.700 đồng.

Qua nội dung vụ việc nêu trên đối với hành vi trộm cắp ngày 05/6/2019, thì đương nhiên Lê Văn C phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích. Mặc dù tài sản Lê Văn C trộm cắp trị giá 400.000 đồng, tuy chưa đủ định lượng nhưng do Lê Văn C chưa đưa xóa án tích về hành vi chiếm đoạt nên việc khởi tố là có căn cứ. Tuy nhiên, đối với hành vi của Lê Văn C vào ngày 14/12/2019, trộm cắp tài sản là 02 trái mít trị giá 576.700 đồng thì việc xử lý Lê Văn C hiện nay đang có hai ý kiến không thống nhất.

Ý kiến thứ nhất: Hành vi trộm cắp tài sản của Lê Văn C vào ngày 14/12/2019 trị giá 576.700 đồng do thời điểm phạm tội này C đã được xóa án tích, tài sản phạm tội không đủ định lượng để xử lý hình sự nên Lê Văn C không phạm tội. Theo quy định tại tại khoản 2 điều 73 BLHS 2015 quy định “Người bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành”. Từ đó có thể thấy rằng, bản án vào ngày 19/9/2017 xét xử Lê Văn C tính đến ngày 19/9/2019 mới được xóa án tích, tuy nhiên đến ngày 05/6/2019 Lê Văn C trộm cắp tài sản trị giá 400.000 đồng nên đã sử dụng tiền án này để xét xử C, do bản án này bị Viện kiểm sát kháng nghị nên đang trong quá trình xét xử phúc thẩm chưa có hiệu lực thi hành, nên chưa thể xác định là lần này C có phạm tội hay không. Vì theo nguyên tắc suy đoán vô tội thì C chưa có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nên không thể khẳng định C trộm cắp vào ngày 14/12/2019 là đang trong thời gian chưa được xóa án tích. Do vậy, không đủ căn cứ để xử lý hình sự C về hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 14/12/2019.

Ý kiến thứ hai: Hành vi trộm cắp tài sản của Lê Văn C vào ngày 14/12/2019, tuy chưa đủ định lượng, nhưng do vào ngày 05/6/2019 C đã có hành vi trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội nên đủ căn cứ khởi tố C về Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 BLHS năm 2015. Theo quy định tại khoản 2 Điều 70 BLHS 2015 thì một người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây: 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo…

Trong thời gian Lê Văn C chưa được xóa án tích thì ngày 05/6/2019 C lại tiếp tục phạm tội, tuy tài sản C trộm ngày 05/6/2019 chưa đủ định lượng nhưng C đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản trước đó, do vậy trong thời gian chưa được xóa án tích mà C lại trộm cắp tài sản nên xác định lần trộm cắp vào ngày 14/12/2019 vẫn phải xem là C phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích. Bên cạnh đó, bản án xét xử C chưa có hiệu pháp luật nhưng không thể cho rằng phải có bản án đã có hiệu lực pháp luật thì mới biết được C có phạm tội hay không phạm tội, mà theo quy định tại khoản 2 Điều 70 BLHS 2015 quy định “Phạm tội mới” có nghĩa là chỉ cần có vi phạm pháp luật hình sự chứ không đồng nghĩa với “việc Tòa án phải ra bản án kết tội một người nào đó phạm tội” nên không cần thiết phải có bản án đã có hiệu lực pháp luật thì mới cho rằng C có phạm tội hay không phạm tội.

Tác giả đồng quan điểm với ý kiến thứ nhất, như đã phân tích ở trên, ngày 29/11/2019 Lê Văn C bị Tòa án xử 06 tháng tù cho hưởng án treo. Bản án này bị Viện kiểm sát kháng nghị và đang trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm nên chưa có hiệu lực thi hành, căn cứ vào quy định “Người bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành” thì chưa thể xác định lần trộm cắp tài sản vào ngày 05/6/2019 của Lê Văn C là có tội hay không, từ đó để xác định lần trộm cắp tài sản của Lê Văn C vào ngày 14/12/2019 là đang trong thời gian chưa được xóa án tích.

3.Kiến nghị

Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều 70 BLHS 2015 quy định “… không thực hiện hành vi phạm tội mới” được hiểu như thế nào, chỉ cần có hành vi vi phạm pháp luật hình sự thì được xem là phạm tội mới hay hành vi phạm tội mới phải có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì chưa có hướng dẫn cụ thể. Theo tác giả, qua những phân tích trên, từ đó áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị can nên lần trộm cắp tài sản vào ngày 14/12/2019 Lê Văn C không phạm tội.

Từ những khó khăn, vướng mắc nêu trên, tạo điều kiện cho các cơ quan tư pháp áp dụng pháp luật được thống nhất tác giả đề nghị cơ quan có thẩm quyền cần sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể khi áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 73 BLHS về chế định xóa án tích.

TAND tỉnh Quảng Bình xét xử vụ án hình sự – Ảnh: VKSND QB

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

3. Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự ở giai đoạn xét xử sơ thẩm

Ths. TĂNG TRẦN QUỲNH PHƯƠNG (Thẩm phán TAND thành phố Bạc Liêu) - Trên cơ sở phân tích, đánh giá việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, bài viết đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.

1. Đặt vấn đề

Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự ở giai đoạn xét xử sơ thẩm có ý nghĩa quan trọng trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm cũng như bảo đảm các quyền cơ bản của công dân, đặc biệt đối với chủ thể bị thiệt hại. Từ việc nghiên cứu thực tiễn giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự ở giai đoạn xét xử sơ thẩm cho thấy vẫn còn xuất hiện nhiều hạn chế, bất cập bởi vẫn còn nhiều trường hợp án bị hủy, sửa do không triệu tập chủ thể bị thiệt hại hoặc chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại tham gia tố tụng, việc tách vấn đề dân sự ra khỏi vụ án hình sự không đúng qui định pháp luật, do vận dụng chưa đúng qui định của BLDS vào việc bồi thường thiệt hại… Những nguyên nhân trên chủ yếu xuất phát từ việc Thẩm phán, Hội thẩm chưa có sự quan tâm đúng mức đến việc giải quyết vấn đề dân sự, chỉ chú trọng vào việc xem xét giải quyết trách nhiệm hình sự; không đầu tư nghiên cứu những qui định của pháp luật về vấn đề dân sự. Bên cạnh đó, những bất cập trong qui định của BLTTHS 2015 và BLDS 2015 cũng làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quan hệ bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự. Trên cơ sở xác định nguyên nhân của những hạn chế, bất cập nêu trên, bài viết đã đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.

2. Một số nội dung về giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự ở giai đoạn xét xử sơ thẩm và những kiến nghị hoàn thiện

2.1. Thẩm quyền giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự ở giai đoạn xét xử sơ thẩm

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 không qui định cụ thể việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được thực hiện ở giai đoạn nào của quá trình tố tụng mà chỉ qui định việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự[1]. Tuy nhiên, ở giai đoạn xét xử sơ thẩm thì cần xác định chỉ có Tòa án là chủ thể duy nhất có thẩm quyền giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự bởi vì xét xử là chức năng đặc thù của Tòa án. Bản chất của xét xử chính là việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án[2]. Như vậy, trước khi ra bản án thì Hội đồng xét xử phải xem xét, giải quyết các vấn đề có liên quan đến quyền lợi của chủ thể bị thiệt hại (bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan), xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ thể phải có nghĩa vụ bồi thường (bị cáo, bị đơn dân sự, người có nghĩa vụ liên quan) hay nói cách khác Hội đồng xét xử cần xem xét giải quyết trong vụ án hình sự phần trách nhiệm dân sự liên quan đến yêu cầu bồi thường thiệt hại của chủ thể có quyền yêu cầu.

Ngoài ra, khi nghiên cứu qui định của BLTTHS Liên bang Nga[3], BLTTHS Trung Hoa[4] và BLTTHS Thái Lan[5] tác giả nhận thấy rằng các BLTTHS này đều xác định rõ chủ thể có thẩm quyền trong giai đoạn này là Tòa án. Điều này tạo cơ sở pháp lí vững chắc hơn cho Tòa án khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Vì vậy, cần qui định rõ trong BLTHS 2015: “Thẩm quyền giải quyền vấn đề dân sự trong vụ án hình sự ở giai đoạn xét xử sơ thẩm thuộc thẩm quyền của Tòa án”.

2.2. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm[6].

Khi nghiên cứu về vấn đề này, tác giả nhận thấy đối với thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại, nhà làm luật chưa dự trù được trường hợp vụ án hình sự giải quyết hơn 03 năm thì Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án hoặc trong bản án Tòa án lại tách vấn đề dân sự ra khỏi vụ án hình sự để giải quyết bằng vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự. Lúc này, nếu áp dụng theo qui định tại Điều 588 BLDS 2015 “Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm” thì thời hiệu khởi kiện của người bị thiệt hại đã không còn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của họ. Vì vậy, theo tác giả, BLDS 2015 cần có qui định bắt đầu tính lại thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại khi Tòa án đình chỉ vụ án hình sự hoặc khi Tòa án tách vấn đề dân sự ra khỏi vụ án hình sự để giải quyết bằng vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự.

2.3. Hình thức giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự ở giai đoạn xét xử sơ thẩm

a. Trình tự, thủ tục giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

BLTTHS 2015 không qui định cụ thể trình tự, thủ tục giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Vì vấn đề dân sự được giải quyết đồng thời với vụ án hình sự nên có thể hiểu là việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự sẽ tuân theo trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự. Việc kiện dân sự trong vụ án hình sự có thuận lợi hơn khi việc chứng minh đó (có trường hợp chỉ là một phần) đã được cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện. Người có yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại được sử dụng kết quả đó của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự mà không cần phải chứng minh mức độ thiệt hại hoặc giá trị tài sản. Đây chính là ưu điểm và đặc thù của việc giải quyết việc kiện dân sự trong vụ án hình sự[7].

Tuy nhiên, khi áp dụng pháp luật tố tụng hình sự vào việc giải quyết vấn đề dân sự cũng đã phần nào hạn chế quyền của chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi họ không được Tòa án tổ chức hòa giải để các bên tự thương lượng, thỏa thuận với nhau. Thậm chí, trong trường hợp họ tự thỏa thuận được với nhau và nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội thì Tòa án cũng không ra quyết định công nhận sự thỏa thuận này; hoặc trường hợp khi chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại muốn rút lại yêu cầu bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên tòa thì Tòa án cũng không thể ra quyết định đình chỉ đối với việc rút lại yêu cầu này của họ. Rõ ràng, đây là vấn đề dân sự, cần tôn trọng quyền quyết định tự định đoạt của các bên; còn về phần trách nhiệm hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng có quyền giải quyết theo qui định pháp luật, không thể vì vấn đề dân sự được giải quyết trong vụ án hình sự mà làm hạn chế quyền của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật này. Vì vậy, ở giai đoạn xét xử sơ thẩm cần qui định:

“Trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, Tòa án có thể tổ chức hòa giải để bên yêu cầu bồi thường thiệt hại và bên có trách nhiệm bồi thường thiệt hại tự thương lượng thỏa thuận với nhau. Trường hợp họ thỏa thuận được với nhau và sự thỏa thuận này không trái pháp luật, đạo đức xã hội thì Tòa án sẽ ghi nhận sự thỏa thuận của các chủ thể này vào trong bản án”.

“Khi bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan đến vụ án rút toàn bộ yêu cầu bồi thường của họ thì Tòa án đình chỉ yêu cầu bồi thường dân sự”.

Một vấn đề khác cũng cần được quan tâm là trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy quyết định của bản án sơ thẩm về phần dân sự để xét xử sơ thẩm lại hay việc Tòa án giám đốc thẩm, tái thẩm hủy quyết định của bản án phúc thẩm hoặc cả quyết định của bản án sơ thẩm về phần dân sự để xét xử lại từ cấp phúc thẩm hoặc từ cấp sơ thẩm thì thủ tục giải quyết sẽ theo thủ tục tố tụng dân sự hay là thủ tục tố tụng hình sự?

Theo hướng dẫn tại công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự thì Tòa án đã xét xử phúc thẩm hoặc sơ thẩm vụ án đó khi nhận lại hồ sơ vụ án phải vào sổ thụ lí loại vụ án hình sự, phân công thẩm phán chủ tọa phiên tòa và chuẩn bị việc xét xử. Như vậy, theo hướng dẫn trên thì việc thụ lí giải quyết lại phần dân sự trong vụ án hình sự được xem là vụ án hình sự. Tuy nhiên, tác giả nhận thấy mục đích của việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là nhằm khắc phục kịp thời thiệt hại do tội phạm gây ra, giảm bớt gánh nặng cho người bị thiệt hại. Vì vậy, một khi mục đích này không còn tồn tại (do vấn đề trách nhiệm hình sự đã được xem xét giải quyết xong) thì cần đưa quan hệ bồi thường thiệt hại về đúng với vị trí của nó, tức là vấn đề dân sự phải được xem xét giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự chứ không phải là thủ tục tố tụng hình sự, có như vậy mới đảm bảo về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia tố tụng. Về vấn đề này, có thể tham khảo pháp luật của Thái Lan và Pháp, cụ thể, BLTTHS Thái Lan qui định “Việc xét xử vụ án dân sự được thực hiện theo qui định của BLTTDS”.[8] BLTTHS Pháp cũng qui định tương tự về vấn đề này “Khi xét xử hình sự trên cơ sở quyết định khởi tố của Viện công tố, Tòa hình sự có thể quyết định các vấn đề dân sự nhưng phải áp dụng các qui định của pháp luật tố tụng dân sự”.[9] Theo tác giả, đây là điểm tiến bộ của pháp luật nước bạn mà Việt Nam cần tham khảo đưa vào pháp luật của Việt Nam bởi vì như đã phân tích ở phần trên, khi giải quyết vấn đề dân sự mà lại hạn chế quyền quyết định tự định đoạt của đương sự thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của họ. Do đó, tác giả kiến nghị sửa đổi theo hướng:

“Trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy quyết định của bản án sơ thẩm về phần dân sự để xét xử sơ thẩm lại hay việc Tòa án giám đốc thẩm, tái thẩm hủy quyết định của bản án phúc thẩm hoặc cả quyết định của bản án sơ thẩm về phần dân sự để xét xử lại từ cấp phúc thẩm hoặc từ cấp sơ thẩm thì việc thụ lí, giải quyết phần dân sự bị hủy được tiến hành theo thủ tục tố tụng dân sự”.

b. Việc tách vụ án dân sự ra để giải quyết riêng

Điều 30 BLTTHS 2015 qui định: “… Trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự“. Theo qui định tại Điều 30 BLTTHS 2015 thì chỉ được tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự đối với phần dân sự về vấn đề bồi thường, bồi hoàn, chưa bao hàm các nội dung đòi trả lại tài sản bị chiếm đoạt, buộc phải sửa chữa tài sản bị hư hỏng. Tuy nhiên, tại Mục 2 phần I Công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự thì vấn đề dân sự trong vụ án hình sự bao gồm: đòi trả lại tài sản bị chiếm đoạt; đòi bồi thường giá trị tài sản do tài sản bị chiếm đoạt, những tài sản đã bị mất hoặc bị hủy hoại; buộc phải sửa chữa tài sản bị hư hỏng; đòi bồi thường thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lí để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại do tài sản bị chiếm đoạt, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng, đòi bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm. Tác giả thống nhất với với quan điểm của Tòa án nhân dân tối cao, theo đó vấn đề dân sự được xem xét giải quyết trong vụ án hình sự giới hạn trong phạm vi trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo qui định tại Chương XXI BLDS 2015. Vì vậy, khi tách vấn đề dân sự ra khỏi vụ án hình sự để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự thì cũng cần xác định các vấn đề được tách là tất cả các vấn đề dân sự được xem xét giải quyết trong vụ án hình sự hay nói cách khác vấn đề dân sự được tách cũng nằm trong phạm vi trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Điều 30 BLTTHS 2015 qui định như vậy là đã thu hẹp phạm vi các vấn đề dân sự được tách ra khỏi vụ án hình sự, do đó cần điều chỉnh theo hướng xác định các vấn đề dân sự được tách trong phạm vi trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để tạo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật.

Bên cạnh đó, Điều 30 BLTTHHS 2015 còn qui định về điều kiện tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự để giải quyết bằng vụ án dân sự khi “chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự”. Theo hướng dẫn tại Mục 2 phần I công văn số 121/2003/KHXX của Tòa án nhân dân tối cao thì chỉ được tách vấn đề dân sự ra khỏi vụ án hình sự khi đảm bảo đủ ba điều kiện sau: (1) Khi có yêu cầu; (2) Nếu phần dân sự được tách không liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm, đến việc xem xét tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; (3) Và thuộc một trong các trường hợp sau đây: a. Chưa tìm được, chưa xác định được người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự; b. Người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự chưa có yêu cầu; c. Người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự đã có yêu cầu, nhưng không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình theo yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và của tòa án nói riêng; d. Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa và sự vắng mặt của họ thật sự trở ngại cho việc giải quyết phần dân sự. So với qui định tại Điều 30 BLTTHS 2015 thì công văn số 121/2003/KHXX đã qui định cụ thể hơn về các trường hợp được tách. Tuy nhiên, theo tác giả thì qui định này vẫn hạn chế quyền quyết định tự định đoạt của chủ thể bị thiệt hại. Chủ thể bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại thì đương nhiên họ cũng phải có quyền yêu cầu tách yêu cầu bồi thường của mình ra khỏi vụ án hình sự để khởi kiện trong một vụ án dân sự độc lập. Về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, khi đã xác định có hành vi phạm tội xảy ra thì phải khởi tố, điều tra, truy tố xét xử theo đúng qui trình tố tụng nhưng về trách nhiệm dân sự thì cần phải tôn trọng quyền quyết định tự định đoạt của chính chủ thể bị thiệt hại, nếu họ đã nêu ra ý kiến không yêu cầu giải quyết bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự thì theo tác giả, Tòa án cần tôn trọng ý kiến của họ, tách vấn đề dân sự ra khỏi vụ án hình sự mà không cần thêm bất cứ điều kiện nào khác./.

[1] Điều 30 BLTTHS 2015.

[2] Khoản 3 Điều 326 BLTTHS 2015: Các vấn đề Hội đồng xét xử phải giải quyết khi nghị án bao gồm: Vụ án có thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung hay không; tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do luật sư, bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp; có hay không có căn cứ kết tội bị cáo. Trường hợp đủ căn cứ kết tội thì phải xác định rõ điểm, khoản, điều của BLHS được áp dụng; hình phạt, biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

[3] Điều 31 BLTTHS Liên Bang Nga qui định: “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của Tòa án giải quyết vụ án hình sự”.

[4] Điều 101 BLTTHS Trung Hoa qui định: “Tòa án nhân dân xét xử án dân sự phụ có thể tiến hành hòa giải, ra quyết định hoặc phán quyết theo mức thiệt hại tài sản”.

[5] Điều 40 BLTTHS Thái Lan qui định: “Quyền xử lí án dân sự có liên quan đến hành vi phạm tội sẽ thuộc về Tòa án đang xét xử án hình sự hoặc Tòa án được ủy nhiệm xét xử án dân sự”.

[6] Điều 588 BLDS 2015.

[7] Nguyễn Văn Tuân (2011), “Thủ tục giải quyết việc kiện dân sự trong vụ án hình sự”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, (09), tr.7-8.

[8] Điều 40 BLTTHS Thái Lan.

[9] Điều 10 BLTTHS Pháp.

(Bộ phận biên tập Công ty Tư vấn pháp luật Minh khuê)

4. Căn cứ xác định vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Quân sự

HOÀNG ĐÌNH DUYÊN (Phó Thủ trưởng Cơ quan Điều tra hình sự khu vực - Tổng cục Hậu cần – BQP) - Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự (TAQS) trước đây được quy định tại Pháp lệnh tổ chức TAQS năm 2002 và được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA ngày 18/04/2005 . Hiện nay thẩm quyền của TAQS quy định tại Điều 272 BLTTHS năm 2015.

Căn cứ thẩm quyền xét xử của TAQS được quy định tại Điều 272, cụ thể như sau:

“Điều 272. Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự

Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử:

a) Vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân;

b) Vụ án hình sự mà bị cáo không thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu hoặc gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội nhân dân hoặc phạm tội trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ.

Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử tất cả tội phạm xảy ra trong địa bàn thiết quân luật”.

1.Những căn cứ xác định vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự

Quá trình giải quyết vụ án hình sự, căn cứ quy định tại Điều 272 BLTTHS năm 2015 và vận dụng Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA ngày 18/04/2005 và các quy định pháp luật có liên quan, xác định vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS trên những vấn đề sau:

1.1. Đối với các vụ án hình sự liên quan đến bí mật quân sự

Bí mật quân sự là: Những thông tin, tài liệu, hiện vật có nội dung quan trọng trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh quốc gia … không công bố hoặc chưa công bố và nếu bị tiết lộ sẽ gây nguy hại cho việc thực hiện nhiệm vụ quân sự. Có ba mức độ bí mật quân sự: Tuyệt mật, tối mật, mật. Nội dung cụ thể được quy định trong pháp lệnh của nhà nước, điều lệnh, điều lệ, quy định … của lực lượng vũ trang và các ngành có liên quan

Vụ án hình sự liên quan đến bí mật quân sự không phụ thuộc đối tượng phạm tội, địa điểm, hoàn cảnh đều thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS.

1.2. Đối với vụ án hình sự mà bị cáo là nhóm đối tượng thuộc quân đội quản lý

Những vụ án hình sự mà bị cáo là: Quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng; Quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; Dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; Công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân.

– Đối với những người không còn phục vụ trong Quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trong thời gian phục vụ trong quân đội hoặc những người đang phục vụ trong Quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trước khi vào Quân đội thì Tòa án quân sự xét xử những tội phạm có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội; những tội phạm khác do Tòa án nhân dân xét xử.

– Đối với trường hợp vụ án vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân thì thẩm quyền xét xử được thực hiện:

Trường hợp có thể tách vụ án thì TAQS xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS; TAND xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND; Trường hợp không thể tách vụ án thì TAQSxét xử toàn bộ vụ án.

Tách vụ án hình sự để xét xử theo thẩm quyền chỉ được tiến hành nếu xét thấy việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án.

1.3. Những vụ án hình sự gây thiệt hại cho những người do quân đội quản lý

Trong vụ án hình sự, quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Đây là những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm đủ định lượng để cấu thành một tội phạm cụ thể được quy định trong bộ luật hình sự mà không phụ thuộc là thiệt hại chính hay thiệt hại phụ.

Đối với trường hợp vụ án hình sự có nhiều bị hại bị thiệt sức khỏe, trong đó thiệt hại về sức khỏe của quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu nếu tách riêng ra thì không cấu thành một tội phạm cụ thể thì vẫn thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS.

Bởi vì thiệt hại của họ là hậu quả của hành vi nguy hiểm cấu thành tội phạm cụ thể; là căn cứ, cơ sở để đánh giá tính chất hành vi của bị cáo, là cơ sở để xác định trách nhiệm hình sự của bị cáo. Nếu tách riêng thiệt hại của nhóm người trên để xác định thẩm quyền xét xử TAQS là ảnh hưởng đến quá trình xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án.

1.4. Những vụ án hình sự gây thiệt hại về tài sản do quân đội quản lý; xâm phạm đến danh dự, uy tín của quân đội

– Gây thiệt hại về tài sản do quân đội quản lý: Tài sản của Quân đội được xác định là tài sản công được sử dụng trong chiến đấu, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và nghiệp vụ quốc phòng, an ninh của lực lượng vũ trang nhân dân do Quân đội nhân dân quản lý.

Tài sản do Quân đội quản lý, sử dụng, kể cả trường hợp Quân đội giao tài sản đó cho dân quân, tự vệ hoặc bất kỳ người nào khác quản lý, sử dụng để chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc thực hiện nhiệm vụ quân sự.

Cũng được coi là gây thiệt hại cho Quân đội trong trường hợp người đang bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù trong nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam do Quân đội quản lý mà lại tiếp tục phạm tội.

– Xâm phạm đến danh dự, uy tín của quân đội được xác định là trường hợp bị cáo có hành vi lợi dụng hình ảnh người quân nhân; hình ảnh quân đội nhân dân để thực hiện tội phạm. Hành vi này đã xâm phạm đến uy tín, danh dự của Quân đội nhân, vì vậy tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS.

1.5. Những vụ án hình sự xảy ra trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ và trong địa bàn thiết quân luật.

Đây là thẩm quyền theo lãnh thổ, theo phạm vi được xác định cụ thể là trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ mà không phụ thuộc đối tượng phạm tội hay đối tượng bị thiệt hại.

Doanh trại quân đội, khu vực do quân đội quản lý, bảo vệ được xác định như: Trường bắn, sân bay, Bệnh viện quân y, trường học, trụ sở đóng quân ….

Đối với địa bàn thiết quân luật: Quy định này đã được quy định tại Luật Quốc phòng năm 2005 (nay đã thay thế bằng Luật Quốc phòng năm 2018 vẫn tiếp tục quy định) nhưng không được quy định tại Pháp lệnh Tổ chức TAQS năm 2002.

2.Một số vướng mắc thực hiện quy định về thẩm quyền xét xử của TAQS

Quá trình thực hiện quy định về thẩm quyền xét xử của TAQS phát sinh một số vướng mắc trên các vấn đề sau:

2.1.Đối với quy định đối tượng “Công chức”

Theo quy định về thẩm quyền xét xử của TAQS thì đối tượng“Công chức” thực hiện tội phạm hoặc bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS.

Theo Quy định của Luật Cán bộ, Công chức năm 2008, Điều 4 quy định: Công chức là “Công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng”.

Các Luật có liên quan đến lĩnh vực quân sự, quốc phòng và các văn bản dưới luật được ban hành sau khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực đã không ghi nhận đối tượng là “Công chức” thuộc quyền quản lý của Bộ Quốc phòng, như: Luật nghĩa vụ quân sự năm 2015; Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng năm 2015…. không đề cập đến đối tượng là “Công chức”

Theo Nghị định 164/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tố chức của Bộ Quốc phòng, Điều 2 quy định Bộ Quốc phòng có thẩm quyền “đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện, tuyển chọn, tuyển dụng, điều động, bố trí sử dụng, phong, thăng cấp bậc quân hàm, khen thưởng, kỷ luật đối với quân nhân, công nhân và viên chức quốc phòng”. Với quy định này Bộ Quốc phòng không quản lý đối tượng là “Công chức”.

Như vậy đối tượng “Công chức” thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS là đối tượng không thuộc Bộ Quốc phòng quản lý.

Bên cạnh đó, theo Điều 392, BLHS năm 2015 “Công chức” không phải là đối tượng chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm trách nhiệm, nghĩa vụ của quân nhân.

2.2.Xác định khu vực do quân đội, quản lý, bảo vệ

Khu vực do quân đội, quản lý, bảo vệ có nhiều khu vực khác nhau, theo nghĩa hẹp là khu vực có giới hạn được xác định chuyên dùng cho mục đích quân sự hoặc khu vực có các công trình được xây dựng, các địa hình và địa vật tự nhiên được cải tạo và xác định nhằm phục vụ mục đích phòng thủ, bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên khu vực do quân đội, quản lý, bảo vệ có thể xác định là các khu vực cấm; khu vực bảo vệ; vành đai an toàn; khu vực tiếp nhận lực lượng động viên; khu vực bố trí lực lượng, phương tiện hậu cần; khu vực tác chiến dùng để bố trí lực lượng, phương tiện vật chất và huy động nhân lực đảm bảo cho tác chiến, khu vực hoạt động của đồn biên phòng; khu vực phòng thủ trong diễn tập phòng thủ địa phương, khu vực phòng thủ dân sự.

Bên cạnh đó nhiều khu vực là đất quốc phòng do quân đội quản lý chưa sử dụng đến được cho thuê, liên doanh, liên kết.

Như vậy, khu vực do quân đội quản lý, bảo vệ đang có nhiều cách hiểu khác nhau, chưa thống nhất, tội phạm xảy ra trong khu vực này đang có các quan điểm khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong và ngoài Quân đội.

2.3. Đối với pháp nhân thương mại thuộc Bộ Quốc phòng quản lý phạm tội

Hiện nay Bộ Quốc phòng quản lý 88 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thuộc Bộ Quốc phòng và 21 Công ty cổ phần có vốn nhà nước, do Bộ Quốc phòng quản lý. Theo quy định của BLHS thì pháp nhân thương mại sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thảo mãn các điều kiện: Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo quy định tại Chương XXIX, BLTTHS năm 2015 về thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân, quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với pháp nhân phạm tội chỉ quy định theo lãnh thổ mà không quy định thẩm quyền xét xử theo sự việc và theo đối tượng.

Điều 444 quy định thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ đối với pháp nhân được phân định theo nơi pháp nhân thực hiện tội phạm hoặc nơi pháp nhân có trụ sở chính hoặc có chi nhánh, nghĩa là những tội phạm do pháp nhân thực hiện xảy ra ở nơi nào, địa phận hành chính lãnh thổ thuộc Tòa án nào thì Tòa án đó có thẩm quyền xét xử, “Điều 444 BLTTHS năm 2015 không quy định riêng về thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc và theo đối tượng đối với pháp nhân” [1]. Như vậy không quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

Tuy nhiên pháp nhân thương mại thuộc Bộ Quốc phòng quản lý liên quan đến con người (quân nhân tại ngũ); tài sản; trụ sở của các pháp nhân thương mại, trong một số trường hợp cũng là doanh trại quân đội, địa bàn do quân đội bảo vệ.

Vì vậy, pháp nhân thương mại thuộc Bộ Quốc phòng quản lý phạm tội có thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự hay không là vấn đề gây lúng túng trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự.

2.4. Xác định thiệt hại về uy tín, danh dự của Quân đội

Có trường hợp lợi dụng hình ảnh của Quân đội nhân dân, người quân nhân để thực hiện tội phạm.

Ví dụ trường hợp sau: Trưa 16/8/2019 tại khu vực phường Yên Hòa (Cầu Giấy, Hà Nội), Cục Bảo vệ an ninh Quân đội, Tổng cục Chính trị QĐNDVN phối hợp với cơ quan chức năng phát hiện đối tượng nữ, mặc quân phục sĩ quan, đeo quân hàm Thượng tá, mang biển tên là Nguyễn Trần Vân Anh có nhiều biểu hiện nghi vấn giả danh sĩ quan cao cấp của quân đội.

Qua điều tra ban đầu đối tượng khai là Lê Thị Phương, sinh ngày 8/10/1985, quê quán huyện Yên Định (Thanh Hóa). Phương khai đã mua bộ quân phục và quân hàm, quân hiệu tại thị xã Sơn Tây cách đây hơn 1 năm và đã có gần 10 lần mang mặc quân phục này để đi lừa đảo tại khu vực Hà Nội. Đối tượng cũng thừa nhận việc làm của mình là sai. Tiếp tục mở rộng điều tra, Lê Thị Phương khai, sáng 16/8 trong một nhà hàng trên đường Dương Đình Nghệ (Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội), Phương đã nhận của một người 50 triệu đồng để lo vị trí công tác (2).

Đối với trường hợp này, tội phạm được thực hiện không thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, bị cáo chỉ sử dụng quân phục, hình ảnh Quân đội nhân dân làm phương thức, thủ đoạn để thực hiện tội phạm.

Mặc quân phục, mạo danh là sỹ quan Quân đội nhân dân để thực hiện tội phạm có ảnh hưởng đến danh dự, uy tín quân đội hay không? Sử dụng hình ảnh Quân đội nhân dân để thực hiện tội phạm trong hợp nào thì được xác định là xâm phạm uy tín danh dự Quân đội? Trong khi đó BLHS thì không có tội phạm cụ thể nào là gây thiệt hại đến uy tín, danh dự của Quân đội nhân dân.

Để đánh giá một hành vi hay một sự kiện gây thiệt hại đến uy tín, danh dự của Quân đội nhân dân trên thực tế còn chưa định lượng được.

2.5. Đối với các vụ án hình sự liên quan đến làm giả, sử dụng con dấu tài liệu của cơ quan tổ chức, đơn vị Quân đội.

Đối với trường hợp vụ án hình sự về các tội làm giả giấy tờ tài liệu, sử dụng giấy tờ tài liệu của cơ quan, tổ chức. Trong đó các bị cáo có hành vi làm giả giấy khám sức khỏe, hồ sơ bệnh án của các Bệnh viện quân y; Giấy chứng nhận kiểm định trang thiết bị y tế của các đơn vị quân đội; làm giả, sử dụng giấy đăng ký xe quân sự, biển xe ô tô quân sự giả…có thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS hay không?

Trong các vụ án hình sự này không có bị cáo là các quân nhân tại ngũ hay các nhóm đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS; thiệt hại về tài sản thì rất khó để định lượng; thiệt hại về uy tín, danh dự thì đang còn lúng túng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

Trường hợp này vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự hay không? Trên thực tế có các quan điểm khác nhau.

2.6. Đối với vụ án hình sự liên quan đến đối tượng dân quân tự vệ

Theo quy định những vụ án hình sự liên quan đến dân quân tự vệ phạm tội chỉ thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS khi bị cáo phạm tội trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu.

Tại Điều 392, BLHS năm 2015, dân quân tự vệ là đối tượng phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, đối với trường hợp phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu.

Như vậy phạm vi đối tượng là dân quân tự vệ của BLHS hẹp hơn so với quy định của BLTTHS, vì sao có sự chênh lệch này thì vẫn chưa được làm rõ.

Theo Từ điển Bách khoa quân sự, “phối thuộc” là “Lâm thời giao một bộ phận lực lượng cho người chỉ huy thuộc quyền để tăng khả năng hoàn thành nhiệm vụ tác chiến của đơn vị đó, người chỉ huy đơn vị phối thuộc không được quyền thay đổi cơ cấu tổ chức, cán bộ và không được sử dụng đơn vị phối thuộc ngoài chức năng nhiệm vụ của nó. Thời hạn phối thuộc do cấp trên quyết định”.

Theo quy định của Luật Dân quân tự vệ năm 2019, nhiệm vụ của Dân quân, tự vệ được quy định tại Điều 5 như sau:

1. Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và phục vụ chiến đấu bảo vệ địa phương, cơ sở, cơ quan, tổ chức.

Phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, hải đảo, vùng biển, vùng trời Việt Nam; tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, khu vực phòng thủ, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật theo quy định của pháp luật.

Thực hiện nhiệm vụ huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị, pháp luật, hội thi, hội thao, diễn tập.

Tham gia thực hiện các biện pháp về chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng theo quy định của pháp luật, quyết định của cấp có thẩm quyền.

Phòng, chống, khắc phục hậu quả thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh, cháy, nổ; tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ; bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường và nhiệm vụ phòng thủ dân sự khác theo quy định của pháp luật.

Tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh; tham gia xây dựng địa phương, cơ sở vững mạnh toàn diện, thực hiện chính sách xã hội.

Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật”.

Như vậy, Luật Dân quân tự vệ không quy định phối thuộc nhưng các nhiệm vụ từ khoản 1 đến khoản 4 được xem là nội hàm của khái niệm “Phối thuộc”.

Theo Luật Dân quân tự vệ, nguyên tắc tổ chức hoạt động của dân quân tự vệ được quy định là: Sự chỉ huy cao nhất của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; sự chỉ huy của Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, người chỉ huy đơn vị quân đội.

Để điều động dân quân tự vệ thực hiện nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của các chỉ huy trong Bộ Quốc phòng. Theo đó dân quân tự vệ phạm tội trong khi thực hiện nhiệm vụ từ khoản 1 đến khoản 4 mới thuộc thẩm quyền; còn trong các trường hợp khác thì không thuộc thẩm quyền.

Bên cạnh đó, khi dân quân tự vệ bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu cũng không thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự, quy định này có thể gây khó khăn nhất định trong việc xác định thẩm quyền giải quyết cụ thể đối với vụ án hình sự. Vì trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu có thể xảy ra trong doanh trại quân đội hoặc khu vực do quân đội quản lý, bảo vệ; trong địa bàn thiết quân luật.

Vậy, chỉ quy định dân quân tự vệ phạm tội trong thời gian huấn luyện hoặc phối thuộc với quân đội trong chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Quân sự như hiện nay là chưa phù hợp(3).

Nhận thấy căn cứ xác định thẩm quyền xét xử của TAQS đối với Dân quân tự vệ phạm tội có sự chênh nhau giữa BLTTHS và Luật Dân quân tự vệ, tạo nên khó khăn nhất định trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đối với trường hợp này.

Một số vướng mắc quy định về thẩm quyền xét xử của TAQS theo quy định của BLTTHS năm 2015 cần được cơ quan liên ngành Trung ương hướng dẫn để làm cơ sở thực hiện thống nhất./.

Tòa án Quân sự Quân khu 7 xét xử vụ Giả mạo trong công tác và sản xuất, buôn bán hàng giả tại Tổng Công ty Xây dựng Lũng Lô (Bộ Quốc phòng) và một số công ty, đơn vị khác. Ảnh: Hoàng Yến PLO

  1. PGS.TS Trịnh Quốc Toản, Nghiên cứu một số quy định đặc thù về các giai đoạn tố tụng đối với pháp nhân trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và một số kiến nghị, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 34, Số 4 (2018).
  2. https://soha.vn/bat-giu-nu-thuong-ta-rom-khai-gan-10-lan-mac-quan-phuc-di-lua-dao-o-ha-noi-20190817075402369.htm (truy cập ngày 21/3/2020);
  3. https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/ve-tham-quyen-xet-xu-cua-toa-an-doi-voi-dan-quan-tu-ve-pham-toi (truy cập ngày 21/3/2020)
  4. Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA ngày 18 tháng 04 năm 2005;
  5. Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam (2004), NXB. QĐND;
  6. Luật Dân quân tự vệ năm 2019

(Bộ phận biên tập Công ty Tư vấn pháp luật Minh khuê)

5. Quyền rút yêu cầu khởi tố của bị hại ở giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự

BLTTHS năm 2015 cho phép người bị hại có thể rút yêu cầu khởi tố vụ án vào bất cứ giai đoạn tố tụng nào trong quá trình giải quyết vụ án, nhằm đảm bảo cho bị hại có nhiều thời gian để cân nhắc giữa lợi ích và thiệt hại trong việc đưa vụ án ra xét xử. Tuy nhiên, quá trình áp dụng quy định này vào thực tiễn phát sinh vướng mắc, bất cập cần phải được khắc phục, nhất là đối với trường hợp bị hại rút yêu cầu khởi tố ở giai đoạn xét xử phúc thẩm.

Khởi tố theo yêu cầu của bị hại và quyền rút yêu cầu khởi tố của bị hại

Điều 155 BLTTHS năm 2015 quy định:

“1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự (BLHS) khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức”.

Khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm 2015 không giới hạn thời điểm bị hại rút yêu cầu khởi tố, mà chỉ quy định “trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ”. Quy định này chỉ hợp lý trong trường hợp bị hại rút yêu cầu khởi tố ở giai đoạn điều tra, truy tố hoặc trước khi mở phiên tòa sơ thẩm hoặc tại phiên tòa sơ thẩm. Căn cứ, thủ tục đình chỉ vụ án trong các trường hợp trên được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 230; khoản 1 Điều 248 và khoản 1 Điều 282 BLTTHS năm 2015. Nếu bị hại rút yêu cầu khởi tố sau khi đã xét xử sơ thẩm thì về nguyên tắc, thủ tục tố tụng bị hại phải kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung là rút yêu cầu khởi tố, yêu cầu không truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với bị cáo hoặc có kháng cáo của bị cáo hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát. Với quy định này, có thể khẳng định rằng người bị hại được quyền rút yêu cầu khởi tố bất cứ giai đoạn tố tụng nào, có thể là ở giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm).

Việc không giới hạn giai đoạn thực hiện quyền rút yêu cầu khởi tố giúp cho bị hại có thời gian cân nhắc để quyết định có yêu cầu truy cứu TNHS người phạm tội hay không, phù hợp với những sửa đổi, bổ sung trong chế định miễn TNHS quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các nhóm tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Tuy nhiên, việc không giới hạn thời điểm thực hiện quyền rút yêu cầu khởi tố của bị hại phần nào gây ra sự tốn kém về thời gian, chi phí tố tụng, nhất là trong trường hợp bị hại rút yêu cầu khởi tố ở giai đoạn xét xử phúc thẩm. Hơn nữa, khi bị hại rút yêu cầu khởi tố ở giai đoạn này sẽ gây khó khăn cho cấp phúc thẩm trong vấn đề xử lý, bởi lẽ, các quy định về xét xử phúc thẩm của BLTTHS năm 2015 không đề cập đến vấn đề bị hại rút yêu cầu khởi tố và hướng giải quyết yêu cầu như thế nào?

Giải quyết yêu cầu của bị hại trong việc rút yêu cầu khởi tố vụ án ở giai đoạn xét xử phúc thẩm

Như đã phân tích, BLTTHS năm 2015 không giới hạn quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án của bị hại, do đó, bị hại có thể rút yêu cầu khởi tố vụ án ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, vấn đề còn lại của cơ quan tiến hành tố tụng là phải giải quyết yêu cầu này của bị hại một cách hợp lý, đúng quy định pháp luật. Đối với trường hợp này, có thể phát sinh hai trường hợp là bị hại rút yêu cầu khởi tố trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa. Chúng tôi phân tích tính chất, thủ tục giải quyết yêu cầu đối với từng trường hợp như sau:

Một là, bị hại rút yêu cầu khởi tố trước khi mở phiên tòa xét xử phúc thẩm.

Không giống với thủ tục xét xử sơ thẩm, trong trường hợp chỉ có bị hại kháng cáo và bị hại rút yêu cầu khởi tố thì Toà án phải giải thích cho bị hại về hậu quả của việc rút yêu cầu khởi tố và Tòa án vẫn phải mở phiên tòa xét xử vụ án, không thể đình chỉ vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 282 BLTTHS như đối với thủ tục xét xử sơ thẩm được, bởi lẽ, thủ tục xét xử phúc thẩm không quy định đình chỉ vụ án mà chỉ có đình chỉ xét xử phúc thẩm. Nếu Tòa án căn cứ vào việc rút yêu cầu của bị hại để đình chỉ xét xử phúc thẩm thì bản án sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật, khi đó việc rút yêu cầu khởi tố của bị hại sẽ không có ý nghĩa, bị cáo vẫn phải chấp hành hình phạt theo quyết định của bản án sơ thẩm. Nếu ngoài bị hại kháng cáo còn có kháng cáo của bị cáo hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát thì thủ tục giải quyết sẽ như trường hợp bị hại rút yêu cầu khởi tố tại phiên tòa.

Hai là, bị hại rút yêu cầu khởi tố tại phiên tòa phúc thẩm.

Khi bị hại rút yêu cầu khởi tố tại phiên tòa thì Tòa án cũng không đình chỉ được vụ án như tại phiên tòa sơ thẩm. Về nguyên tắc và thủ tục tố tụng, Tòa án phải căn cứ vào khoản 2 Điều 155; điểm d khoản 1 Điều 355 BLTTHS năm 2015 hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án. Tuy nhiên, đối chiếu với Điều 359 BLTTHS năm 2015 quy định về căn cứ để hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án lại không có trường hợp bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án. Chính việc BLTTHS không quy định cụ thể vấn đề bị hại rút yêu cầu khởi tố ở giai đoạn xét xử phúc thẩm dẫn đến quyền rút yêu cầu khởi tố của bị hại được luật ghi nhận, nhưng khi quyền này được thực hiện trên thực tế, cơ quan tiến hành tố tụng lại không có cơ sở pháp lý để giải quyết đúng theo nguyên tắc, thủ tục xét xử phúc thẩm. Điều này dẫn đến thực tế có nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau: Ý kiến thứ nhất cho rằng, nếu bị hại rút yêu cầu khởi tố tại phiên tòa xét xử phúc thẩm thì Tòa án chỉ nên xem xét đây là tình tiết mới để làm căn cứ giảm nhẹ TNHS cho bị cáo; ý kiến thứ hai cho rằng, Tòa án phải miễn hình phạt cho bị cáo; ý kiến thứ ba cho rằng, Tòa án cấp phúc thẩm phải hủy bản án sơ thẩm trả về cho cấp sơ thẩm đình chỉ vụ án theo quy định tại Điều 282 BLTTHS năm 2015; ý kiến thứ tư cho rằng, nên miễn TNHS cho bị cáo. Chúng tôi lần lượt phân tích tính có căn cứ của từng ý kiến như sau:

Đối với ý kiến thứ nhất: Theo chúng tôi, ý kiến này không phù hợp với nguyên tắc buộc tội của bị hại đối với các tội phạm khởi tố theo yêu cầu của bị hại quy định tại khoản 1 Điều 155 BLTTHS năm 2015. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định thời điểm bị hại rút yêu cầu khởi tố, có nghĩa là quyền này được thực hiện bất kỳ giai đoạn nào, có thể là ở giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, hơn nữa khoản 2 Điều 155 quy định “trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ…”, việc Tòa án chỉ xem yêu cầu rút đơn khởi tố để làm cơ sở giảm nhẹ TNHS cho bị cáo là chưa đảm bảo quyền rút yêu cầu khởi tố của bị hại.

Đối với ý kiến thứ hai: Ý kiến này không có cơ sở theo quy định tại Điều 59 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015. Đối chiếu với điều kiện miễn hình phạt quy định tại Điều 59 của BLHS cho thấy, bị cáo chỉ có thể được miễn hình phạt nếu đáp ứng một trong hai điều kiện: (1) Bị cáo có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 và đáng được khoan hồng đặc biệt; (2) Bị cáo phạm tội lần đầu, là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể và đáng được khoan hồng đặc biệt. Với ý kiến này chúng ta cần phân biệt giữa miễn hình phạt với không phải chịu TNHS. Miễn hình phạt là trường hợp hành vi bị cáo đã cấu thành tội phạm và phải chịu TNHS (hình phạt), do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ hoặc là người phạm tội lần đầu, là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể và đáng được khoan hồng đặc biệt nên mới được miễn hình phạt (không phải chấp hành hình phạt) chứ không phải hành vi phạm tội của họ không phải chịu TNHS. Đối với các tội phạm khởi tố theo yêu cầu của bị hại, có thể nói yêu cầu khởi tố vụ án của bị hại là tiền đề, điều kiện đủ để các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, hay nói cách khác, bị hại là một trong những chủ thể đầu tiên quyết định việc có truy cứu TNHS của bị cáo hay không. Nếu bị hại không đề nghị khởi tố vụ án để truy cứu TNHS của bị cáo thì không có lý do gì bị cáo chỉ được miễn hình phạt mà đáng lý ra họ không phải chịu TNHS.

Đối với ý kiến thứ ba: Ý kiến này không có căn cứ, bởi lẽ đối chiếu căn cứ hủy bản án sơ thẩm thì không có căn cứ nào Tòa án cấp phúc thẩm có thể hủy bản án của cấp sơ thẩm khi không có vi phạm theo quy định tại Điều 358 BLTTHS năm 2015.

Đối với ý kiến thứ tư: Chúng tôi đồng tình với việc vận dụng quy định về miễn TNHS để làm căn cứ giải quyết việc rút yêu cầu khởi tố của bị hại ở giai đoạn xét xử phúc thẩm. Việc áp dụng quy định về miễn TNHS vừa giải quyết được hai vấn đề: (1) Quyền rút yêu cầu của bị hại được thực thi trên thực tế; (2) Cơ quan tiến hành tố tụng có đủ cơ sở pháp lý để giải quyết yêu cầu của bị hại mà không trái với nguyên tắc, quy định về thủ tục xét xử phúc thẩm. Để miễn TNHS cho bị cáo, cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào nội dung quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 để xem xét bị cáo có đủ điều kiện để miễn TNHS hay không và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 357 BLTTHS năm 2015 để làm căn cứ quyết định miễn TNHS cho bị cáo. Chúng tôi lần lượt phân tích quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 để làm rõ căn cứ của việc áp dụng chế định này trong việc giải quyết vấn đề bị hại rút yêu cầu khởi tố tại phiên tòa phúc thẩm như sau:

Khoản 3 Điều 29 quy định: “Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự”. Để miễn TNHS cho bị cáo theo quy định này, phải có đủ các điều kiện sau:

Thứ nhất, tội phạm mà bị cáo thực hiện phải là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác. Qua rà soát mức hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 155 cần phải có yêu cầu khởi tố của bị hại như đã nêu trên, có 08 tội danh là tội phạm ít nghiêm trọng, trừ Tội hiếp dâm; Tội cưỡng dâm là tội phạm nghiêm trọng, không đáp ứng được điều kiện miễn TNHS trong trường hợp này. Do đó, việc miễn TNHS cho bị cáo đối với 02 tội danh này sẽ không thực hiện được, mặc dù bị hại có rút yêu cầu khởi tố. Thứ hai, người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn TNHS cho bị cáo. Thực tiễn xét xử cho thấy khi bị hại quyết định rút yêu cầu khởi tố thì về ý chí họ không muốn truy cứu TNHS đối với bị cáo nữa và mong muốn cơ quan tiến hành tố tụng không kết tội bị cáo. Do đó, trong trường hợp này, Tòa án phải yêu cầu bị hại hoặc đại diện hợp pháp của bị hại tự nguyện hòa giải với bị cáo và thể hiện yêu cầu đề nghị miễn TNHS cho bị cáo tại phiên tòa. Việc hòa giải và đề nghị miễn TNHS này phải ghi rõ vào biên bản phiên tòa.

Thứ ba, người phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả cho phía bị hại. Điều kiện này đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào kết quả sửa chữa, bồi thường, khắc phục hậu quả của bị cáo để xem xét. Điều luật quy định rõ là người phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả chứ không phải xem xét việc thỏa thuận, ghi nhận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo với bị hại ở giai đoạn sơ thẩm, do đó, việc bị cáo hứa hẹn bồi thường được bản án sơ thẩm ghi nhận không phải là điều kiện để xem xét miễn TNHS cho bị cáo. Tuy nhiên, do phía bị hại không muốn truy cứu TNHS đối với bị cáo nữa nên Tòa án cần phải giải thích cho bị cáo hiểu để bị cáo thực hiện việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra để được xem xét miễn TNHS. Trong trường hợp này Hội đồng xét xử có thể căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 352 BLTTHS hoãn phiên tòa cho bị cáo thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của mình để làm cơ sở xem xét miễn TNHS cho bị cáo.

Như vậy, để đảm bảo áp dụng đúng quy định của pháp luật trong việc giải quyết việc rút yêu cầu khởi tố của bị hại tại phiên tòa phúc thẩm thì yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng phải lần lượt xác định và giải quyết đầy đủ các điều kiện như vừa phân tích ở trên. Khi có đủ các điều kiện nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể xem việc rút đơn yêu cầu khởi tố của bị hại là tình tiết mới và căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 367 BLTTHS năm 2015 quyết định sửa bản án sơ thẩm, miễn TNHS cho bị cáo. Tuy việc vận dụng quy định miễn TNHS tạm thời chưa giải quyết được triệt để vấn đề bị hại rút yêu cầu khởi tố tại phiên tòa phúc thẩm (trừ hai tội danh hiếp dâm và cưỡng dâm không áp dụng được quy định miễn TNHS như đã phân tích trên), nhưng phần nào cũng khắc phục được thiếu sót của BLTTHS đối với trường hợp bị hại rút yêu cầu khởi tố tại phiên tòa phúc thẩm.

Để có cơ sở pháp lý cho việc giải quyết yêu cầu rút yêu cầu khởi tố vụ án của bị hại ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, chúng tôi kiến nghị bổ sung vào BLTTHS năm 2015 tại Điều 359 căn cứ để hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án trong trường hợp bị hại rút yêu cầu khởi tố tại phiên tòa phúc thẩm với nội dung như sau:

Điều 359. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án

“1. Khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 157 của Bộ luật này thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án.

2. Khi có một trong những căn cứ quy định tại các khoản 3, 4, 5, 6, và 7 Điều 157 của Bộ luật này thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.

3. Khi bị hại hoặc đại diện hợp pháp của bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án”./.

TCKS số 15/2018 - kiemsat.vn

(Bộ phận biên tập Công ty Tư vấn pháp luật Minh khuê)

Liên hệ sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật:

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi:

CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Điện thoại yêu cầu dịch vụ luật sư tư vấn luật, gọi: 1900.6162

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: L[email protected]

Rất mong nhận được phục vụ Quý khách hàng!
Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT