1. Thân nhân là gì? Thân nhân gồm những ai?

Thân nhân là một trong các quan hệ được đề cập rất nhiều trong pháp luật. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết thân nhân là gì và hiểu rõ về mối quan hệ thân nhân. Cụ thể, thân nhân được hiểu là người có quan hệ đặc biệt đối với cá nhân nào đó. Thân nhân được xác định bởi mối quan hệ thân thích và các quan hệ xã hội khác. Trong đó, Luật hôn nhân và gia đinh có định nghĩa về Người thân thích "là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời." Cũng trong luật này đã quy định đối với người trong gia đình bao gồm "vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột"; người có cùng dòng máu về trực hệ là "những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người nảy sinh ra người kia kế tiếp nhau" và người có họ trong phạm vi ba đời là "những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba."

Như vậy, thân nhân được hiểu là người thân thích và những người có mối quan hệ đặc biệt với một người. Nhân thân bao gồm các đối tượng là người trong gia đình, người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, những người có cùng dòng máu về trực hệ và những người có họ trong phạm vi ba đời.

 

2. Quan hệ nhân thân là gì?

Quan hệ nhân thân được hiểu là quan hệ xã hội mà quan hệ đó có liên quan tới giá trị nhân thân của cá nhân hoặc tổ chức. Bản thân mỗi một chủ thể sẽ có rất nhiều yếu tố nhân thân làm nên đặc điểm riêng biệt, sự khác biệt giữa chủ thể đó với tất cả chủ thể khác trong xã hội (tính chuyên biệt, riêng có). Với rất nhiều các yếu tố nhân thân đó, có những yếu tố nhân thân có giá trị to lớn, cần được bảo vệ, ghi nhận riêng biệt và được thừa nhận là giá trị nhân thân. Chính những giá trị nhân thân ấy tạo nên nền tảng để nhà làm luật thừa nhận, quy định quyền nhân thân cho từng chủ thể đó. Quan hệ thân nhân được chia thành 2 loại: quan hệ với tài sản và quan hệ không gắn với tài sản. Đối tượng của quan hệ nhân thân là giá trị nhân thân của một chủ thể nhất định, và đối tượng này không thể dịch chuyển được cho một chủ thể khác. Cụ thể:

Quan hệ nhân thân gắn với tài sản được hiểu là những quan hệ quyền tài sản của một cá nhân, tổ chức. Ví dụ, khi một tác giả sáng tác ra một bài hát, bài hát đó là tài sản của tác giả đó. Tác giả là người đã sáng tạo, phát mình ra bài hát đó và có quyền sử dụng bài hát đó, được gọi là quyền tác giả. Quyền sử dụng bài hát của tác giả được hiểu là quyền nhân thân gắn với tài sản. Điều này đã thể hiện tính chất, đặc điểm đặc thù về cơ chế hình thành và thiết lập nên quyền nhân thân gắn với tài sản.

Tuy nhiên, giá trị tài sản gắn với quyền thân nhân không phải là quan hệ có tính chất trao đổi ngang bằng.

Quan hệ nhân thân không gắn với tài sản có thể được ví dụ là những quyền của chủ thể có tên, tuổi, địa chỉ, quốc tịch, quyền được sống, quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, quyền được chuyển đổi giới tính, quyền được hiến xác và các mô, bộ phận của cơ thể… như vậy, kể từ khi một cá nhân sinh ra và hình thành, cá nhân đã được hưởng những quyền lợi nhất định do thế giới và từng quốc gia quy định. Theo đó, kể cả khi cá nhân đó không sở hữu một tài sản cụ thể, nhất định nào thì cá nhân cũng có những quyền nhân thân nhất định.

Các quan hệ nhân thân cũng có thể chấm dứt, chẳng hạn như chấm dứt quan hệ hôn nhân: ly hôn, người chồng hoặc người vợ trong quan hệ hôn nhân bị tuyên bố đã chết,...

 

3. Đặc điểm quan hệ nhân thân

Quan hệ nhân thân có 3 đặc điểm chính, đó là:

- Đối tượng của quan hệ nhân thân không trị giá được thành tiền. Đây là nét đặc trưng để phân biệt với đối tượng của quan hệ tài sản. Tài sản luôn mang trong mình hai đặc tính: giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị nhân thân không xác định được giá trị bằng tiền và không có bất kỳ một cơ sở nào để có thể tính được giá trị quy thành tiền cho nên những quan hệ nhân thân không thể có sự trao đổi ngang giá được.

- Các quan hệ nhân thân đem lại các lợi ích phi vật chất cho các chủ thể. Rất nhiều người lầm tưởng khi tác giả của một cuốn sách được trả tiền nhuận bút, tiền sử dụng hình ảnh của một cá nhân... cho thấy quan hệ nhân thân đã tạo nên lợi ích vật chất cho người có quyền nhân thân. Thực tế, đây là các quyền phái sinh từ việc xác lập các quan hệ nhân thân giữa người có giá trị nhân thân với chủ thể khác. Bản thân quan hệ nhân thân là quan hệ xác lập với đối tượng không giá trị được thành tiền, không mang tính trao đổi ngang giá thì đương nhiên sẽ không thể tạo nên các giá trị vật chất cho các chủ thể trong quan hệ đó. Nên chính vì thế, những giá trị thu được khi xác lập quan hệ nhân thân chính là các lợi ích không mang tính vật chất.

- Quan hệ nhân thân được xác lập với một bên chủ thể được ghi nhận quyền nhân thân và thực hiện quyền nhân thân của mình. Cơ sở để có thể xác lập được quan hệ nhân thân chính là chủ thể có quyền nhân thân và thực hiện quyền nhân thân của mình. Khi chủ thể được pháp luật ghi nhận quyền nhân thân của mình, thực hiện quyền nhân thân của mình thì chính là nguồn gốc để hình thành nên các quan hệ nhân thân. Chủ thể xác lập quyền nhân thân liên quan đến họ, tên của mình bởi vì chủ thể đó được ghi nhận quyền có họ, tên hoặc quyền thay đổi họ, tên.

 

4.  Giấy tờ, tài liệu chứng minh quan hệ nhân thân

Mặc dù không có định nghĩa cụ thể về quan hệ nhân thân nhưng tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 62/2021/NĐ-CP có quy định về giấy tờ, tài liệu chứng minh quan hệ nhân thân gồm:

- Quan hệ vợ, chồng: Đăng ký kết hôn, xác nhận tình trạng hôn nhân,...

- Quan hệ cha, mẹ, con: Giấy khai sinh, quyết định nhận cha mẹ con, quyết định nuôi con nuôi,...

- Quan hệ anh, chị, em ruột: Giấy khai sinh, xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã,...

- Quan hệ cụ nội, cụ ngoại, ông bà nội, ông bà ngoại, anh, chị, em ruột, cô, dì, chú bác ruột, người giám hộ: Quyết định cử người giám hộ, xác định của Ủy ban nhân dân cấp xã,...

- Người chưa thành niên: Giấy khai sinh, thẻ Căn cước công dân, hộ chiếu còn thời hạn,...

- Không còn cha, mẹ: Giấy chứng tử của cha, mẹ, quyết định của Tòa tuyên bố cha mẹ mất tích, chết,...

Như vậy, Luật Minh Khuê vừa cung cấp đến bạn đọc một số thông tin về khái niệm thân nhân, thân nhân là những ai, khái niệm nhân thân và ví dụ về quan hệ nhân thân trong bài viết Thân nhân là gì? Thân nhân là những ai? Ví dụ về quan hệ nhân thân. Nếu có bất cứ thắc mắc nào, bạn đọc vui lòng liên hệ tổng đài 1900.6162 để được đội ngũ Luật su tư vấn miễn phí. Luật Minh Khuê xin cảm ơn!