1. Khái quát chung về quyền gia chủ

Quyền gia chủ thể hiện quyền lực của người cha đối với con cái, cả con trai lẫn con gái, và con của con trai. Người mẹ không có quyền lực đối với con cái mình trong cả thời kỳ khi người cha còn sống cũng như khi người cha đã chết.
Luật gia Gai đã từng gọi chế định quyền gia chủ là Ius proprium civium romanorum (chế định riêng của công dân La Mã) và nói thêm rằng: “Hầu như chưa từng có một dân tộc nào lại có một thứ quyền lực đối với con cái như chúng ta – những công dân La Mã.”
Chỉ có người cha mới là chủ thể độc lập persona sui iuris, còn con trai hay con gái chỉ là những người thuộc quyền người khác (personae alieni iuris)
Con trai dưới quyền có tự do (libertas) và quyền như công dân (civitas). Trong công pháp, nếu đã lớn tuổi, anh ta đứng ngang hàng với cha và giữ những địa vị xã hội (trừ địa vị nghị viện). Nhưng trong gia đình, anh ta hoàn toàn phụ thuộc dưới quyền lực của người cha (không kể lứa tuổi, ngay cả khi đã lấy vợ hoặc thậm chí đã có con cái).
 

2. Cơ sở phát sinh quyền cha

- Quyền lực của người cha xuất hiện khi sinh con trai hoặc con gái từ cuộc hôn nhân hợp pháp. 
- Nhận con nuôi: 
Luật Hammurabi có một số những quy định hết sức tiến bộ về việc nhận con nuôi. Con nuôi phải kính trọng và biết ơn công lao nuôi dưỡng của cha mẹ nuôi (điều 185). Bố mẹ không được phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi, không được cưỡng đoạt con người khác về nuôi (điều 186 và 190). Quyền lợi của con nuôi được pháp luật bảo vệ (điều 191). Ngược lại, pháp luật La Mã lại có những quy định chặt chẽ về điều kiện nhận con nuôi như bố mẹ phải có khả năng nuôi con nuôi, và phải hơn con nuôi ít nhất 18 tuổi… Điểm tiến bộ của luật La Mã là việc hạn chế quyền lực của người cha, người chồng trong gia đình, giết con là có tội và người đàn ông không được bán vợ con của mình. Nhưng, bộ luật Hammurabi lại chứa đựng tư tưởng chủ đạo: bảo tồn tính bền vững của gia đình, đề cao đạo đức xã hội. Bộ luật này trừng trị nặng hành vi trái luân thường đạo lý như việc con cái hành hung cha mẹ,…
Có 02 dạng nhận con nuôi để xác lập quyền lực của người cha:
Con nuôi không thuộc quyền lực của người cha trước đó (persina sui iuris – hay còn gọi là arrogation), được xác lập theo sắc dụ của Hoàng đế.
Con nuôi nằm dưới quyền lực người cha trước đó (adoption), xác lập theo biên bản của Tòa án với sự đồng ý của ba người: người cha cho con, người nhận nuôi và đứa con nuôi.

3. Điều kiện nhận con nuôi

- Người nhận nuôi phải là đàn ông, nếu là đàn bà thì trước đó đã có con nhưng mất con;
- Người nhận con nuôi không được phép là con dưới quyền mà phải là persiona sui iuris (chủ thể độc lập);
- Người nhận nuôi phải lớn hơn con nuôi không dưới 18 năm.
- Quyền lực của người cha còn được pháp luật công nhận từ dạng hôn nhân Concubinatus  (Hay còn gọi là “Ngoại hôn” – hình thức chung sống giữa đàn ông và đàn bà nhưng không thỏa mãn các điều kiện kết hôn. Vì vậy, luật pháp không thừa nhận sự phụ thuộc của những đứa con sinh ra từ hôn nhân Concubinatus vào địa vị xã hội của người cha và người cha không có quyền áp đặt quyền gia chủ cho những đứa con đó).

4.  Chấm dứt quyền lực của gia chủ

Gia chủ qua đời
Con dưới quyền chết
Gia chủ hoặc con dưới quyền bị mất quyền tự do hay quyền công dân
Con dưới quyền được phong tước cao
Gia chủ và con dưới quyền thỏa thuận trao cho con dưới quyền độc lập hoặc khước từ quyền lực của người cha thông qua Tòa án hoặc theo sắc dụ của Hoàng đế…(thủ tục emancipaci)…

5. Quan hệ tài sản giữa cha và con

Cha mẹ có quyền yêu thương và cũng có nghĩa vụ thương yêu con. Con cái được kết tinh từ máu thịt của cha mẹ, được người mẹ mang nặng đẻ đau, được người cha chăm sóc, vỗ về, dạy dỗ. Cũng chính vì vậy, cha mẹ có quyền thương yêu con và không ai được tước đoạt đi quyền ấy.

Nghĩa vụ thương yêu con là bởi sự gắn bó máu thịt, sự công nhận của xã hội với mối quan hệ cha mẹ – con cái đòi hỏi cha mẹ phải bày tỏ tình yêu thương qua những hành động cụ thể, bằng sự chăm sóc, tạo mọi điều kiện tốt nhất về tài chính, thời gian, suy nghĩ cho con mình để cho trẻ em – từ tình yêu thương ấy trưởng thành và là một người con ngoan, một công dân tốt.
 
– Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
 
Cha mẹ có nghĩa vụ bảo vệ và chăm sóc con cái khi con chưa thành niên, chưa có tự khả năng lao động, và ngay cả khi đã thành niên nhưng bị tàn tật… đó là những gì mà không chỉ pháp luật quy định mà cả đạo đức con người cũng không cho phép lương tâm cha mẹ không thực hiện nghĩa vụ đó. Khi con chưa thành niên, tức là chưa trưởng thành hoặc gặp những khiếm khuyết về thể chất, trí tuệ, cha mẹ là đối tượng đầu tiên cho quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho con. Khi con cái còn nhỏ, mọi nhu cầu sống cơ bản như ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khỏe … đều phụ thuộc vào cha mẹ và dù có nhiều thành viên khác có thể cùng chăm sóc nhưng cha mẹ có quyền quyết định việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, trừ trường hợp luật pháp quy định như khi cha mẹ đối xử tàn nhẫn, lạm dụng hoặc không có khả năng nuôi dạy trẻ.

La Mã đều xác lập chế độ gia đình gia trưởng phụ quyền. Người cha, người chồng có quyền hành gần như tuyệt đối trong gia đình. Vợ và các con đều ở địa phụ thuộc người cha. Người vợ phải chung thuỷ với chồng, có nhiệm vụ chăm sóc gia đình, sống trong nhà chồng. Con có nghĩa vụ phải kính trọng cha mẹ, nuôi dưỡng cha mẹ. Mặc dù vậy, các quy định cụ thể ở hai bộ luật lại tương đối khác nhau. Nhìn chung, luật La Mã có nhiều quy định điều chỉnh các mối quan hệ trong gia đình hơn bộ luật Hammurabi.

- Quan hệ vợ chồng: Luật La Mã quy định vợ chồng phải tôn trọng nhau, bất kỳ là đẳng cấp nào. Người vợ phải sống ở nhà chồng, nuôi dạy con cái và chung thuỷ. Tội ngoại tình có thể bị xử tử. Quyền của người chồng phụ thuộc vào đẳng cấp của hai người. Bộ luật Hamurabi thì xây dựng trên hình mẫu gia trưởng. Người chồng làm chủ trong gia đình. Quyền lực của họ rất lớn đến mức có thể đem vợ mình đi làm con tin để gán nợ (điều 117). Người Lưỡng Hà cổ đại còn thừa nhận chế độ đa thê, do đó mà pháp luật phải can thiệp để quy định sự trên dưới của các bà vợ. Người đàn ông có thể lấy vợ lẽ để có thêm con, có thể mang vợ lẽ về nhà nhưng không được đối xử với vợ lẽ như đối với vợ cả (Điều 145).

- Quan hệ cha mẹ - con cái: Bộ luật Hammurabi đã gần như tuyệt đối hóa quyền lực của người cha trong gia đình. Trong khi người cha ở Lưỡng Hà cổ đại có quyền bán con mình hoặc đem đi làm tin (điều 117) thì người cha trong gia đình La Mã không thể làm như vậy. Theo luật Hammurabi, tài sản của con cái trong gia đình đều thuộc về người cha, còn luật La Mã lại có quy định rõ ràng về tài sản giữa cha mẹ và con cái.

- Chấm dứt quan hệ cha mẹ và con cái: Luật Hammurabi hạn chế việc chấm dứt quan hệ cha mẹ và con cái theo ý chí riêng của các bên (điều 168). Trong khi đó, luật La Mã lại nới lỏng vấn đề này.

Về vị trí tài sản của con dưới quyền, đáng lưu ý là việc con trai dưới quyền được pháp luật cho phép giao dịch làm ăn, nhưng lợi tức thuộc công việc làm ăn lại thuộc tài sản của người cha. Chỉ khi pater familias chết hoặc từ bỏ quyền sở hữu tài sản thì con (cả trai lẫn gái) mới được sở hữu tài sản dưới tên mình.
Theo Luật La Mã cổ thì: “Con trai dưới quyền không được phép có cho mình, nhưng lại phải chịu trách nhiệm về những hành vi của bản thân ". Nếu vi phạm pháp luật, người bị hại được quyền Actio noxalis – và theo đó người cha của kẻ gây hại phải bổi thường bằng tiền hoặc phải đem con dưới quyền sang nhà bị hại làm công trừ tiền phạt đền.
Cùng với sự phát triển của thương mại và các quan hệ kinh tế, tình trạng nói trên của gia chủ hoàn toàn bất lợi. Trước hết gia chủ không thể quán xuyến hết được những hành vi phạm pháp của con dưới quyền nên người ngoài ngại giao dịch và có quan hệ làm ăn với con dưới quyền. Mặt khác, đời sống kinh tế lại cần đến sự đóng góp công sức của con cái dưới quyền, cho nên pháp luật phải nới rộng những hạn chế về năng lực pháp luật và năng lực hành vi của con dưới quyền, mặc dù gia chủ vẫn phải chịu trách nhiệm về những gì mà con dưới quyền gây ra.
Cũng như nô lệ, con dưới quyền được hưởng một phần tài sản – peculio để quản lý và sử dụng. Chủ sở hữu peculio vẫn là gia chủ. Trong trường hợp con dưới quyền chết thì peculio lại được trả về cho người cha. Nếu con dưới quyền đòi lại thì peculio lại có thể được chuyển cho con như quà tặng. Về sau này, hình thức peculio lại được phổ biến rộng rãi đối với những thứ mà con dưới quyền kiếm được (tiền lương phục vụ quân đội, tiền lương làm công cho nhà nước…) con dưới quyền có thể được hưởng những loại peculio đó, kể cả tài sản thừa kế do mẹ hoặc họ hàng phía mẹ để lại).
Vào thời kỳ Hoàng đế Contantin đã có những thay đổi bằng việc ban hành những quy định: Hạn chế quyền định đoạt của người cha đối với tài sản riêng của con và di sản nhận thừa kế từ mẹ. Thời kỳ Hoàng đế Arkadi và Gonoria cũng hạn chế quyền người cha định đoạt tài sản của con là di sản thừa kế từ mẹ và những người thân ruột thịt từ phía mẹ. Thời kỳ Hoàng đế Justinian đã ban chiếu dụ: Quyền định đoạt tài sản của người cha đối với tài sản của con giới hạn trong tài sản có được do thực hiện quyền uy của người cha. Cha chỉ có quyền sử dụng tài sản đó cho nhu cầu nuôi dưỡng mình. Đối với tài sản mà người con được tặng cho, được thừa kế thì quyền sử dụng cho mục đích nuôi chính mình của người cha cũng không được pháp luật La Mã bảo vệ.

6. Quan hệ nhân thân và tài sản giữa cha mẹ và con cái trong hình thức Concubinatus

Con cái trong concubinatus ban đầu không được phân biệt với dạng con bất hợp pháp khác (spurii), về sau khi concubinatus được công nhận nhiều hơn thì mới phân biệt với dạng con bất hợp pháp khác và ra đời naturales.
Trước thời Justinian, naturales ko có quyền thừa kế theo pháp luật phần di sản của cha. Ở thời Justinian, naturales có quyền thừa kế 1/6 di sản nếu người cha không có một người vợ hợp pháp hoặc con hợp pháp khác. Trong trường hợp người cha có một người vợ hợp pháp hoặc con hợp pháp khác thì naturales không có quyền thừa kế, nhưng có quyền nhận cấp dưỡng từ người cha.
Các phương thức hợp pháp hóa con ngoài giá thú (naturales)
Vào thời kỳ hoàng đế Osodoisa và Valentin: người cha phải nôp 1 khoản tiền nhất định vào ngân khố địa phương (Legitimatio Per Oblationem curiac)
Vào thời kỳ Hoàng đế Anstasia: thừa nhận kết hôn hợp pháp bằng cách cho cha mẹ kết hôn hợp pháp (legitimatio per subsequens matrimonium)
Vào thời kỳ Hoàng đế Justinian: công nhận con hợp pháp bằng sắc lệnh của Hoàng đế (Ligimatio per rescriptum principis)