1. Thay đổi trong thủ tục kỷ luật công chức, viên chức

Ngày 20/9/2023, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 71/2023/NĐ-CP ngày 20/9/2023 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, trong đó có một số nội dung mới về trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật công chức, viên chức.

Theo đó, tại Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức thì trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật đối với công chức, viên chức được thực hiện 03 bước cụ thể như sau:

  • Đối với công chức: Việc xử lý kỷ luật công chức được thực hiện theo các bước sau đây:

- Bước 1: Tổ chức họp kiểm điểm;

- Bước 2: Thành lập Hội đồng kỷ luật;

- Bước 3: Cấp có thẩm quyền ra quyết định xử lý kỷ luật.

Trong trường hợp xử lý kỷ luật theo quyết định của cấp có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP thì không thực hiện bước 1. Trường hợp công chức có hành vi vi phạm pháp luật bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị Tòa án kết án về hành vi tham nhũng thì không thực hiện bước 1 và bước 2.

  • Đối với viên chức: Việc xử lý kỷ luật đối với viên chức cũng được thực hiện theo các bước sau đây:

- Bước 1: Tổ chức họp kiểm điểm;

- Bước 2: Thành lập Hội đồng kỷ luật;

- Bước 3: Cấp có thẩm quyền ra quyết định xử lý kỷ luật.

Đối với trường hợp xử lý kỷ luật theo quyết định của cấp có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP thì không thực hiện bước 1. Trường hợp công chức có hành vi vi phạm pháp luật bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị Tòa án kết án về hành vi tham nhũng thì không thực hiện bước 1 và bước 2.

Song với quy định mới tại Nghị định số 71/2023/NĐ-CP thì nhà làm luật đã bổ sung thêm quy định về các trường hợp không tổ chức họp kiểm điểm khi xử lý kỷ luật công chức, viên chức đó là: (i) Xử lý kỷ luật theo quy định tại khoản 10 Điều 2 Nghị định này; và (ii) Xử lý kỷ luật theo quyết định của cấp có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định này hoặc đã tổ chức kiểm điểm theo quy định của pháp luật và cá nhân đã nhận trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình.

Mặt khác, không tổ chức họp kiểm điểm và thành lập Hội đồng kỷ luật đối với các trường hợp: (i) Đã có kết luận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về hành vi vi phạm, trong đó có đề xuất cụ thể hình thức kỷ luật theo quy định; (ii) Công chức, viên chức có hành vi vi phạm pháp luật bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị Tòa án kết án về hành vi tham nhũng; và (iii) Đã có quyết định xử lý kỷ luật về đảng, trừ trường hợp cấp có thẩm quyền quyết định thành lập Hội đồng kỷ luật theo quy định tại khoản 6 Điều 2 Nghị định này;

Ngoài ra, các trường hợp được đề cập nói trên cũng được sử dụng kết luận về hành vi vi phạm (nếu có) đối với công chức, viên chức bị xử lý kỷ luật mà không phải điều tra, xác minh lại.

 

2. Nguyên tắc xử lý kỷ luật công chức, viên chức

Việc xử lý kỷ luật công chức, viên chức phải được thực hiện theo các nguyên tắc do pháp luật hiện hành quy định, cụ thể theo Điều 2 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức (được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 2 Nghị định số 71/2023/NĐ-CP ngày 20/9/2023 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 112/2020/NĐ-CP) thì các nguyên tắc xử lý kỷ luật bao gồm:

Thứ nhất, bảo đảm khách quan, công bằng; công khai, nghiêm minh; chính xác, kịp thời; đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục.

Thứ hai, mỗi hành vi vi phạm chỉ bị xử lý một lần bằng một hình thức kỷ luật. Trong cùng một thời điểm xem xét xử lý kỷ luật, nếu công chức, viên chức có từ 02 hành vi vi phạm trở lên thì xem xét, kết luận về từng hành vi vi phạm và quyết định chung bằng một hình thức cao nhất tương ứng với hành vi vi phạm.

Thứ ba, trường hợp công chức, viên chức đang trong thời gian thi hành quyết định kỷ luật tiếp tục có hành vi vi phạm thì bị áp dụng hình thức kỷ luật như sau:

- Nếu có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật ở hình thức nhẹ hơn hoặc bằng so với hình thức kỷ luật đang thi hành thì áp dụng hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức kỷ luật đang thi hành;

- Nếu có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật ở hình thức nặng hơn so với hình thức kỷ luật đang thi hành thì áp dụng hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức kỷ luật áp dụng đối với hành vi vi phạm mới.

Thứ tư, khi xem xét xử lý kỷ luật phải căn cứ vào nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; thái độ tiếp thu và sửa chữa; việc khắc phục khuyết điểm, vi phạm, hậu quả; các trường hợp khác theo quy định của Đảng và của pháp luật được tính là căn cứ để xem xét miễn kỷ luật hoặc giảm nhẹ trách nhiệm.

Thứ năm, không áp dụng hình thức xử phạt hành chính hoặc hình thức kỷ luật đảng thay cho hình thức kỷ luật hành chính; xử lý kỷ luật hành chính không thay cho truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu hành vi vi phạm đến mức bị xử lý hình sự.

Thứ sáu, công chức, viên chức bị xử lý kỷ luật về đảng thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày công bố quyết định kỷ luật về đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thực hiện quy trình xử lý kỷ luật hành chính (nếu có), trừ trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật quy định tại Điều 3 Nghị định này. Hình thức kỷ luật hành chính phải bảo đảm tương xứng với kỷ luật về đảng. Trường hợp có thay đổi về hình thức xử lý kỷ luật về đảng thì phải thay đổi hình thức xử lý kỷ luật hành chính tương xứng. Trường hợp cấp có thẩm quyền của Đảng quyết định xóa bỏ quyết định xử lý kỷ luật về đảng thì cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật hành chính phải ban hành quyết định hủy bỏ quyết định xử lý kỷ luật hành chính.

Thứ bảy, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm thân thể, tinh thần, danh dự, nhân phẩm trong quá trình xử lý kỷ luật.

Thứ tám, công chức, viên chức có hành vi vi phạm lần đầu đã bị xử lý kỷ luật mà trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày quyết định xử lý kỷ luật có hiệu lực có cùng hành vi vi phạm thì bị coi là tái phạm; ngoài thời hạn 24 tháng thi hành vi vi phạm đó được coi là vi phạm lần đầu nhưng được tính là tình tiết tăng nặng khi xem xét xử lý kỷ luật.

Thứ chín, quyết định xử lý kỷ luật công chức, viên chức có hiệu lực 12 tháng kể từ ngày có hiệu lực thi hành. Trường hợp đã có quyết định kỷ luật về đảng thì hiệu lực của quyết định xử lý kỷ luật hành chính tính từ ngày quyết định kỷ luật về đảng có hiệu lực. Trong thời gian này, nếu không tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật đến mức phải xử lý kỷ luật thì quyết định xử lý kỷ luật đương nhiên chấm dứt hiệu lực mà không cần phải có văn bản về việc chấm dứt hiệu lực.

Trường hợp công chức, viên chức tiếp tục có hành vi vi phạm đến mức bị xử lý kỷ luật trong thời gian đang thi hành quyết định xử lý kỷ luật thì xử lý như theo quy định khoản 3 Điều 2 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP.

Thứ mười, công chức, viên chức có hành vi vi phạm trong thời gian công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị cũ đến khi chuyển sang cơ quan, tổ chức, đơn vị mới mới phát hiện hành vi vi phạm đó và vẫn còn trong thời hiệu xử lý kỷ luật thì cấp có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, đơn vị mới thực hiện việc xem xét xử lý kỷ luật và áp dụng hình thức kỷ luật theo quy định pháp luật tương ứng với vị trí công chức, viên chức hiện đang đảm nhiệm. Đối với trường hợp này, cơ quan, tổ chức, đơn vị cũ có trách nhiệm cung cấp toàn bộ hồ sơ liên quan đến hành vi vi phạm và cử người phối hợp trong quá trình xem xét, xử lý kỷ luật. Các quy định về đánh giá, xếp loại chất lượng và các quy định khác có liên quan được tính ở đơn vị cũ.

Thứ mười một, không được cử vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ; cha, mẹ (vợ hoặc chồng), cha nuôi, mẹ nuôi; con đẻ, con nuôi; anh, chị, em ruột; cô, dì, chú, bác, cậu ruột; anh, chị, em ruột của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng của anh, chị, em ruột hoặc người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến hành vi vi phạm bị xem xét xử lý kỷ luật là thành viên Hội đồng kỷ luật hoặc là người chủ trì cuộc họp kiểm điểm.

 

Công ty Luật Minh Khuê luôn muốn bày tỏ lòng tri ân chân thành đến quý vị vì đã ủng hộ và tin tưởng chúng tôi. Chúng tôi luôn sẵn sàng hỗ trợ và đồng hành cùng quý vị trong mọi vấn đề pháp lý hoặc câu hỏi có thể xuất hiện.

Đội ngũ tư vấn chuyên nghiệp của chúng tôi luôn lắng nghe và hỗ trợ quý vị 24/7. Quý vị có thể liên hệ với chúng tôi thông qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến tại số hotline 1900.6162. Để đảm bảo rằng quý vị sẽ nhận được sự tư vấn chi tiết và hỗ trợ phù hợp nhất, chúng tôi rất sẵn lòng tiếp nhận yêu cầu của quý vị qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn.

Cam kết của chúng tôi là cung cấp sự hỗ trợ nhanh chóng và hiệu quả, để đáp ứng mọi nhu cầu pháp lý của quý vị. Chúng tôi trân trọng mọi đóng góp quý báu từ phía quý vị và luôn lắng nghe để phục vụ quý vị tốt hơn hàng ngày. Cảm ơn sự hợp tác và sự ủng hộ đáng quý của quý vị, đó là động viên quý báu giúp chúng tôi phát triển và phục vụ quý vị tốt hơn.