1. Nghĩa vụ là gì?
Theo Điều 274 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 274. Nghĩa vụ
Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền).
Như vậy, Thuật ngữ “nghĩa vụ” sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là những xử sự bắt buộc mà một hoặc nhiều chủ thể phải làm. Cơ chế bảo đảm tối đa cho việc bắt buộc phải thực hiện là các biện pháp cưỡng chế của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Một quan hệ nghĩa vụ được xác định là quan hệ pháp luật dân sự khi hàm chứa được 3 yếu tố: Chủ thể, khách thể và nội dung của quan hệ pháp luật dân sự. Nghĩa vụ tại Điều 274 Bộ luật dân sự xác định rất rõ 3 yếu tố trên, cụ thể:
- Chủ thể: Bên mang quyền và bên mang nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ luôn được xác định cụ thể. Trong đó, chủ thể mang quyền cũng như mang nghĩa vụ có thế là một hoặc nhiều chủ thể. Quan hệ nghĩa vụ được xác định là quan hệ pháp luật dân sự tương đối vì việc hình thành quan hệ này phải phụ thuộc vào các chủ thể hoặc quy định của pháp luật, điều này tạo sự khác biệt với quan hệ sở hữu. Đồng thời bên mang quyền, bên mang nghĩa vụ phải được xác định rõ ràng mới có thể thực hiện được quan hệ này. Với quy định này, chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ có thể là cá nhân, pháp nhân, Nhà nước được pháp luật công nhận khi tham gia các quan hệ nghĩa vụ.
- Khách thể: Trong quan hệ nghĩa vụ lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà các bên chủ thể tham gia hướng tới được xác định thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ nhất định của bên mang nghĩa vụ đối với bên mang quyền. Cụ thể: Bên mang nghĩa vụ phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vĩ lợi ích của bên mang quyền.
- Nội dung: Quan hệ pháp luật dân sự luôn hàm chứa sự thỏa thuận hoặc quy định của pháp luật tạo ra quyền và nghĩa vụ tương xứng của các bên chủ thể. Đối với quan hệ nghĩa vụ, việc thực hiện một hoạt động cụ thể như: Chuyển giao vật, chuyển giao quyền... của một bên luôn nhằm hướng đến thỏa mãn nhu cầu, lợi ích của bên còn lại. Như vậy, việc một chủ thể gọi là bên có nghĩa vụ phải làm hoặc không được làm một hoạt động cụ thể nào đó theo thỏa thuận hoặc pháp luật quy định được xác định là nghĩa vụ của bên đó trước bên có quyền. Toàn bộ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ đều được pháp luật bảo đảm thực hiện bằng những biện pháp nhất định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Căn cứ pháp sinh nghĩa vụ.
Theo Điều 275 Bộ luật dân sự 2015 thì nghĩa vụ của thể phát sinh dựa trên các căn cứ sau:
Điều 275. Căn cứ phát sinh nghĩa vụ
Nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ sau đây:
1. Hợp đồng.
2. Hành vi pháp lý đơn phương.
3. Thực hiện công việc không có ủy quyền.
4. Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
5. Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật.
6. Căn cứ khác do pháp luật quy định.
Quan hệ nghĩa vụ làm xuất hiện hai chủ thể là bên mang quyền và bên mang nghĩa vụ, theo đó bên mang nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ cụ thể mang lại lợi ích cho bên có quyền. Như vậy, quan hệ nghĩa vụ có thể được hình thành từ các căn cứ sau: Hợp đồng; Hành vi pháp lí đơn phương; Thực hiện hành vi không có ủy quyền; Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật; Căn cứ khác do pháp luật quy định.
Căn cứ phát sinh quan hệ nghĩa vụ được hiểu là các quy định của pháp luật tạo cơ sở giúp chúng ta xác định khi nào một quan hệ nghĩa vụ xuất hiện, về cơ bản, các căn cứ nếu trên được xác định rõ, bản thân nó không phải là quan hệ nghĩa vụ mà xuất phát từ việc thực hiện hành vi nhất định tương ứng với từng loại quan hệ nói trên sẽ là cơ sở phát sinh quan hệ nghĩa vụ.
3. Nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở hợp đồng.
Theo Điều 275 Bộ luật dân sự 2015 thì hợp đồng là một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ:
Nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ sau đây:
1. Hợp đồng.
2. Hành vi pháp lý đơn phương.
3. Thực hiện công việc không có ủy quyền.
4. Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
5. Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật.
6. Căn cứ khác do pháp luật quy định.
Theo Điều 385 Bộ luật dân sự 2015: "Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự."
Với tính chất này, khi các bên thỏa thuận nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của nhau thì đây sẽ là căn cứ hình thành nghĩa vụ. Thông thường, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng có tính đối xứng nhau, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Hựop đồng làm phát sinh nghĩa vụ dân sự từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực pháp luật. Mặc dù, Điều 275 Bộ luật dân sự không quy định cụ thể nhưng dưới góc độ nghiên cứu, hợp đồng là căn cứ phát sinh nghĩa vụ phải có hiệu lực pháp luật; còn đối với hợp đồng vô hiệu thì hợp đồng không có hiệu lực kể từ thời điểm kí kết nên không được coi là căn cứ phát sinh nghĩa vụ cho các bên trong hợp đồng.
Do hợp đồng là một dạng của giao dịch dân sự nên hợp đồng cũng phải đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Theo Điều 117 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.
4. Nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở thực hiện công việc không có ủy quyền.
Theo Điều 275 Bộ luật dân sự 2015 có quy định Thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ.
Điều 275. Căn cứ phát sinh nghĩa vụ
Nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ sau đây:
....
3. Thực hiện công việc không có ủy quyền.
4. Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
5. Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật.
....
Thực hiện công việc không có ủy quyền xuất phát từ sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đổi (Điều 574 Bộ luật dân sự năm 2015).
Thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ cho cả người thực hiện công việc và người có công việc, cụ thể:
- Người thực hiện công việc có các nghĩa vụ như: Thực hiện công việc phù hợp với khả năng, điều kiện của mình; phải thực hiện công việc như công việc của chính mình; nếu biết hoặc đoán biết được ý định của người có công việc thì phải thực hiện công việc phù hợp với ý định đó; phải báo cho người có công việc được thực hiện về quá trình, kết quả thực hiện công việc nếu có yêu cầu... (Điều 575 Bộ luật dân sự 2015);
- Người có công việc được thực hiện có nghĩa vụ: Thanh toán cho người thực hiện công việc chi phí mà họ đã bỏ ra để thực hiện công việc và trả công cho người thực hiện công việc theo quy định của pháp luật (Điều 576 Bộ luật dân sự 2015).
5. Đối tượng của quan hệ nghĩa vụ dân sự là gì?
Đối tượng của quan hệ nghĩa vụ dân sự là những gì các bên chủ thể tác động vào để qua đó thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhằm mục đích thỏa mãn những nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn của mình hoặc hướng tới việc bảo vệ quyền, lợi ích của một chủ thể nào đó. Điều 276 Bộ luật dân sự 2015 xác định đối tượng và điều kiện của đối tượng của quan hệ nghĩa vụ.
Điều 276. Đối tượng của nghĩa vụ
1. Đối tượng của nghĩa vụ là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện.
2. Đối tượng của nghĩa vụ phải được xác định.
Theo đó:
- Đối tượng của quan hệ nghĩa vụ bao gồm:
+ Tài sản: Bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
+ Công việc phải thực hiện: Công việc phải thực hiện được hiểu là những hoạt động thể hiện thông qua hành vi cụ thể mà một bên mong muốn xác lập quan hệ nghĩa vụ để bên còn lại thực hiện hoạt động này. Qua đó, bên yêu cầu có thể thỏa mãn được các nhu cầu về lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần.
+ Công việc không được thực hiện: Như cách lý giải trên, công việc không được thực hiện là những hoạt động không thông qua hành vi - tức là thể hiện dưới dạng không hành động mà các bên thỏa thuận để thỏa mãn các nhu cầu lợi ích của mình.
- Đối tượng của nghĩa vụ phải xác định được.
Một trong những nguyên tắc để thực hiện được quyền và nghĩa vụ dân sự đó là: đối tượng là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện cần phải xác định được một cách rõ ràng. Điều này hoàn toàn phù hợp vì khi đối tượng không thể xác định các bên chủ thể không thể tác động vào đó để thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích của mình. Đồng thời, các bên chủ thể càng không thể tạo ra các quyền và nghĩa vụ một cách cụ thể. Qua đó, pháp luật không thể đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Trân trọng./.