1. Thế nào là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội ?

Điều 19 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: "Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản". Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm,; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này"

Hành vi được thừa nhận là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải có đầy đủ các điều kiện khách quan và chủ quan. Khi có đủ điều kiện ấy người thực hiện hành vi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự.

- Điều kiện khách quan để thừa nhận là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là không thực hiện tội phạm đén cùng, tuy không có gì ngăn cản. Điều kiện này đòi hỏi người phạm tội đang còn điều kiện thực hiện tội phạm như công cụ, phương tiện phạm tội có hiệu nghiệm, người phạm tội không bị phát hiện hoặc điều kiện thuận lợi khác để thực hiện tội phạm trót lọt. Việc chấm dứt tội phạm phải xảy ra ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc ở giai đoạn phạm tội chưa đạt, chưa hoàn thành.

Chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt, chưa hoàn thành là những trường hợp người phạm tội mới tìm kiếm, sửa soạn công cụ phương tiện hoặc chưa thực hiện hết các hành vi khách quan được quy định trong cấu thành tội phạm, do vậy hậu quả của tội phạm chưa xảy ra cho xã hội. Trong lúc này người phạm tội không tiếp tục thực hiện tội phạm nữa, là điều kiện tiên quyết của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

Nếu người phạm tội chấm dứt hành vi của mình ở giai đoạn phạm tội hoàn thành hoặc chưa đạt nhưng đã hoàn thành thì không được thừa nhận là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội vì họ đã thực hiện hết hành vi khách quan của cấu thành tội phạm do điều luật quy định.

- Điều kiện chủ quan: Người phạm tội phải chấm dứt việc phạm tội một cách tự nguyện và dứt khoát, triệt để. Sự chấm dứt hành vi phạm tội dứt khoát thể hiện ở việc từ bỏ hẳn, chấm dứt hẳn tội phạm. Trường hợp người phạm tội chỉ chấm dứt tạm thời, chờ thời cơ thuận lợi lại tiếp tục phạm tội không được coi là dứt khoát. Người phạm tội phải tự mình chấm dứt hành vi phạm tội, việc chấm dứt hoàn toàn tự nguyện, tự giác chứ không phải vì lý do bị ngăn cản. Pháp luật không quy định nguyên nhân dẫn đến chấm dứt tội phạm, do vậy người phạm tội có thể chấm dứt hành vi phạm tội bởi bất kỳ nguyên nhân nào như thương người bị hại, sợ trừng phạt, hối hận...v.v

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm vì họ đã từ bỏ hẳn ý định phạm tội khi họ không có bất kỳ sự ngăn cản nảo. Điều đó chứng tỏ họ không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Tuy nhiên khi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, người chấm dứt chỉ được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm. Nếu hành vi thực tế của họ ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc ở giai đoạn phạm tội chưa đạt, chưa hoàn thành đã có đủ dấu hiệu cả các yếu tố cấu thành tội phạm khác thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đó, họ chỉ được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm chứ không được miễn trách nhiệm hình sự về tội hạm khác mà họ đã phạm ở giai đoạn chuẩn bị hoặc giai đoạn chưa đạt, chưa hoàn thành.

Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Thế nào là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ? Hình phạt hành vi chiếm đoạt tài sản

2. Tư vấn về trách nhiệm hình sự đối với tội phạm chưa đạt ?

Thưa luật sư, xin tư vấn giúp mình trường hợp này. A làm quen với một sĩ quan quân đội rồi lén lấy khẩu súng của anh ta kèm theo băng đạn. A thường mang khẩu súng này trong người khi ra khỏi nhà. Ngày 12/1/2016, A thấy trên vệ đường có một chiếc xe máy, trên xe có treo một chiếc túi có đựng tiền và không thấy có người trông giữ. A bèn lén lấy chiếc túi và bỏ chạy.
Chạy được chừng 100m thì có người phát hiện, đuổi theo và hô hoán bắt kẻ trộm. Mọi người xung quanh thấy thế liền đuổi theo. Thấy có nguy cơ bị bắt, A rút súng bắt chỉ thiên. Thấy mọi người vẫn đuổi theo, A liền chĩa súng bắn bừa vào đám đông nhưng do súng bị kẹt đạn nên không nổ. Sau đó mọi người tràn vào bắt lấy A. Tang vật là một chiếc túi chứa 2 triệu đồng. Bên cạnh tội chiếm đoạt vũ khí quân dụng và tội trộm cắp tài sản, A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi tội phạm chưa đạt không? Vì sao? Đưa ra căn cứ pháp lý?
Cảm ơn!

Tư vấn về trách nhiệm hình sự đối với tội phạm chưa đạt ?

Luật sư tư vấn Luật Hình sự về trách nhiệm hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo Điều 15 Bộ Luật Hình sự 2015 quy định về hành vi tội phạm chưa đạt:

Điều 15. Phạm tội chưa đạt

Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

Điều 10 Bộ luật hình sự 2015 quy định về cố ý phạm tội như sau:

Điều 10. Cố ý phạm tội

Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;

2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

Tội giết người quy định Bộ luật này là việc tước đoạt đi tính mạng của người khác trái pháp luật. Một người cố ý cướp đi tính mạng của người khác trong mọi trường hợp không kể bất cứ lý do gì đều sẽ bị truy tố về tội giết ngườim8
Trong trường hợp trên, A đã rút súng bắn bắn bừa bãi vào đám đông, Khi đó A hoàn toàn biết hành vi của mình là trái pháp luật có thể gây hậu quả chết người nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi để thoát thân. Do đó, A thực hiện hành vi này với lỗi cố ý gián tiếp. Tuy nhiên, A không thực hiện được đến cùng vì súng bị kẹt, điều này là ngoài ý muốn của A.

==> Từ đó khẳng định A có thể bị truy tố về tội giết người trong giai đoạn chưa đạt theo quy định của pháp luật hình sự.

>> Bài viết tham khảo thêm: Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành và tội phạm hoàn thành ?

>> Xem thêm:  Ép buộc người khác ký giấy nợ bị xử lý như thế nào ? Thuê đòi nợ có vi phạm không ?

3. Tự ý bán xe của người khác có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không ?

Thưa luật sư, xin anh chị cho em hỏi vơi ạ: Em trai của em năm nay 23t đã có đầy đủ giấy tờ lái xe tải 4 chân.nhưng do không may khi tham gia giao thông có gây tai nạn làm chết 1 người đi xe máy khi họ đang qua đường.bây giờ em ấy đang ở trọ tại địa điểm gây tai nạn chờ cơ quan chức năng điều tra..em muốn hỏi là em ây sẽ bị xử phạt thế nào..mức bồi thường cho gia đinh nạn nhân la bn ạ..em ấy liệu có bị xử lí hình sự không ạ ?
Mong anh chị tư vấn giúp em và gia đinh với ạ. em chân thành cảm ơn ạ

Trả lời:

Nếu như em trai bạn có vi phạm giao thông dẫn đến chết người thì sẽ chịu trách nhiệm hinh sự theo Điều 260 Bộ luật Hình s2015 sửa đổi bổ sung 2017:

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...”

Còn nếu như chỉ là không may, sự kiện khách quan, em trai bạn không vi phạm luật giao thông thì em trai bạn không có lỗi, do đó không cấu thành về mặt chủ quan của tội phạm và sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

>> Xem thêm:  Cho vay tiền làm ăn có tiền nhưng không trả nên báo công an không ?

4. Tài xế tự ý vận chuyển hàng hóa của công ty thì bị truy cứu như thế nào ?

Kính chào Luật Minh Khuê! K là chủ kiêm lái xe thường xuyên được Công ty X thuê chở hàng từ kho của công ty giao cho Hợp tác xã M. Trong một lần chở hàng, do đã quen nhau nên thủ kho của công ty X thỏa thuận và cho K vào kho tự bốc và xếp hàng lên xe, mỗi chuyến là 30 bao hàng ra cổng thủ kho mới kiểm tra số hàng vận chuyển và ký vào phiếu xuất hàng.
Hôm đó K đã chở được 4 chuyến, mỗi chuyến đúng 30 bao hàng, đến chuyến thứ 5 K xếp thêm 2 bao hàng lên xe (vượt 2 bao so với thỏa thuận với thủ kho). Khi ra cổng kho, K có thái độ điềm nhiên và đưa phiếu xuất hàng cho thủ kho ký. Tin rằng K chở đủ số bao hàng như đã thoả thuận và đã giữa trưa nên thủ kho không đếm lại số bao hàng K vận chuyển mà ký xác nhận ngay vào phiếu xuất hàng như các chuyến trước. Bằng thủ đoạn trên K đã chiếm đoạt được 2 bao hàng của Công ty X trị giá là 15 triệu đồng.
Hỏi K phạm tội gì ?

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bộ luật hình sự 2015; Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về tội trộm cắp tài sản

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

Như vậy, về mặt khách quan của tội phạm : sau khi bốc hàng lên xe K đã bốc quá thêm hai thùng hàng như vậy dù có người nhìn thấy thì mọi người cũng không nghĩ đó là hành vi trộm cắp tài sản. Sau khi bốc hàng xong K chạy xe ra cổng để thủ kho kí giấy xuất hàng. Việc không kiểm tra lại số hàng trên xe đã tạo điều kiện cho K có điều kiện chiếm đoạt được 2 bao hàng là do ý chí chủ quan của thủ kho không muốn kiểm tra do thấy những lần trước K chở hàng đúng số lượng hoặc do trời đã trưa nên thủ kho không muốn kiểm hàng. Trong trường hợp này thủ kho là người trực tiếp quản lí tài sản và không biết mình bị chiếm đoạt tài sản vì thấy những lần trước K chở đúng số lượng hàng và khi ra khỏi cổng kho K vẫn giữ vẻ mặt điềm nhiên làm cho thủ kho không có gì nghi ngờ mà kí ngay vào giấy xuất hàng. K chiếm đoạt được tài sản khi thủ kho kí xác nhận vào phiếu xuất hàng. Thủ kho biết mình đang kí xuất 30 bao hàng chứ không hề biết mình đang kí xuất 32 bao hàng vì do thủ kho quá chủ quan không kiểm hàng trước khi kí xuất hàng.

- Về chủ thể của tội phạm : “K là chủ kiêm lái xe thường xuyên được Công ty X thuê chở hàng từ kho của công ty giao cho Hợp tác xã M”như vậy ta có thể thấy K hoàn toàn đủ năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi theo quy định của pháp luật.

- Mặt chủ quan của tội phạm: tội trộm cắp tài sản được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Mục đích là chiếm đoạt tài sản của người khác. Cụ thể. K thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp và với mục đích chiếm đoạt bao hàng của công ty X.

Từ những phân tích trên ta thấy như vậy, K phạm tội trộm cắp tài sản.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

5. Hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt?

Pháp luật có quy định như thế nào về vấn đề phạm tội chưa đạt. Việc áp dụng mức hình phạt trong trường hợp này thực hiện như thế nào? Mức hình phạt cao nhất áp dụng cho các trường hợp phạm tội chưa đạt ?

Trả lời:

Theo quy định của Bộ Luật hình sự năm 2015, tại Điều 15:

" Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội. Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt."

Trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định pháp luật, việc quyết định hình phạt được thực hiện như sau:

- Đối với hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.

- Trường hợp điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.

- Tòa án quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi trong trường hợp phạm tội chưa đạt theo hai nguyên tắc trên.

- Mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội chưa đạt không quá một phần ba mức hình phạt quy định tại Điều 100 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự 2015

Điều 100. Cải tạo không giam giữ

1. Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý hoặc phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng.

2. Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, thì không khấu trừ thu nhập của người đó.

Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội không quá một phần hai thời hạn mà điều luật quy định.

Điều 101. Tù có thời hạn

Mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định như sau:

1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;

2. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.

- Mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội chưa đạt không quá một phần hai mức hình phạt quy định tại các Điều 99, 100 và 101 của Bộ luật Hình sự.

Điều 99. Phạt tiền

Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng.

Mức tiền phạt đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định.

Trên đây là một số quy định về phạm tội chưa đạt. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Làm giấy vay tiền viết tay có hợp pháp không?