1. Được cấp sổ đỏ hay sổ hồng khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận ?

Chào Luật sư, xin Luật sư cho em hỏi, hiện tại em đang mua một mảnh đất và đang làm thủ tục cấp giấy chứng nhận, nhưng đang thắc mắc là sẽ được cấp sổ đỏ hay sổ hồng? Sổ nào có giá trị hơn?
Xin cảm ơn Luật sư.

Theo Luật mới hiện hành sẽ được cấp sổ đỏ hay sổ hồng khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận ?

Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai về cấp sổ đỏ, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Hiện nay khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận về đất đai đã được thống nhất cấp giấy chứng nhận " quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ".

Năm 2009, để thống nhất thành một loại Giấy chứng nhận, ngày 19/10/2009 Chính phủ ban hành Nghị định số 88/2009/NĐ-CP (đã hết hiệu lực) và ngày 21/10/2009 Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT (đã được thay thế bằng thông tư khác) về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Theo đó, hai loại Giấy chứng nhận nói trên sẽ do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành theo một mẫu thống nhất và được áp dụng trong phạm vi cả nước đối với mọi loại đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất...

Kế thừa quy định nói trên, Điều 97 Luật đất đai năm 2013 cũng quy định:

Điều 97. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được cấp cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất theo một loại mẫu thống nhất trong cả nước.

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định cụ thể về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã được cấp theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về nhà ở, pháp luật về xây dựng trước ngày 10 tháng 12 năm 2009 vẫn có giá trị pháp lý và không phải đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp người đã được cấp Giấy chứng nhận trước ngày 10 tháng 12 năm 2009 có nhu cầu cấp đổi thì được đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này.

Từ năm 2009, thống nhất cấp "Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất" có bìa màu hồng. Nên khi bạn làm giấy chứng nhận hiện tại sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sử dụng nhà và tài sản gắn liền với đất (có bìa màu hồng).

Thực tế hiện nay vẫn đang lưu hành cả 3 loại giấy tờ là "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất" (có bìa màu đỏ), “Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở” (có bìa màu hồng) và "Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất" (có bìa màu hồng). Cả 3 giấy tờ đó đều có giá trị pháp lý như nhau.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

2. Tư vấn về việc không được cấp sổ đỏ theo diện gia đình chính sách ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Năm 1982, Gia đình tôi gồm bố mẹ tôi và tôi đã khai hoang một mảnh đất trước nhà, với diện tích là 360m2. Vì canh tác không được gia đình đã đổ đất.Gia đình tôi cũng thuộc diện gia đình chính sách. Như luật thì gia đình tôi sẽ được cấp một mảnh đất và còn được Nhà nước hỗ trợ xây nhà cho gia đình chính sách . Nhưng gia đình chúng tôi không được hưởng bất cứ quyền lợi nào.

Năm 1992, gia đình tôi có làm đơn lên Ủy Ban Nhân Dân xã Tràng Lương để xin cấp giấy sử dụng đất tức là Sổ Đỏ trên mảnh đất khai hoang đó theo diện gia đình chính sách. Các cán bộ đương nhiệm lúc đó xác nhận là đã ký duyệt xác nhận mảnh đất đó cho gia đình tôi với diện tích là 360m2 để cấp sổ đỏ cho gia đình chúng tôi. Tuy nhiên vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận sử dụng đất ( Sổ đỏ).
Năm 2010, gia đình tôi lại tiếp tục làm đơn để xin cấp giấy sử dụng đất .Tuy nhiên, Ủy Ban Nhân Dân Xã đã làm mất giấy tờ của gia đình tôi (Việc này đã có sự xác nhận của các cấp lãnh đạo khi đó). Từ đó đến nay, Ủy Ban Nhân Dân xã Tràng Lương không giải quyết vấn đề này cho gia đình nhà tôi mặc dù gia đình tôi đã kiến nghị rất nhiều lần.
Năm 2015, Nhà nước xây dựng Con đường Tâm Linh đi qua nhà tôi. Các lãnh đạo Ủy Ban Nhân Dân có ý định muốn thu hồi mảnh đất mà gia đình tôi xin cấp sổ đỏ để làm đất bồi thường cho gia đình khác. Trong khi đó, gia đình tôi có nguyện vọng xây nhà thờ tổ tiên ngay trên mảnh đất đó, việc này gia đình tôi đã làm đơn từ trước rồi.

Tôi xin được hỏi:

1. Việc xác nhận của chính quyền địa phương lúc đó có còn có hiệu lực hay không?

2. Để được cấp giấy chứng nhận sử dụng đất chúng tôi có phải làm thêm thủ tục gì hay không?

3. Vấn đề cấp giấy sử dụng đất cho nhà tôi chưa được giải quyết mà xã đã có lệnh thu hồi đất để cấp cho gia đình khác như vậy có đúng hay không? Nếu UBND xã không cấp đất cho gia đình chúng tôi, thì chúng tôi có được mua lại mảnh đất đó hay không?

4. Trả lời về việc giải quyết vấn đề cấp đất này Ông chủ tịch xã hiện nay có trả lời cho gia đình chúng tôi là chưa có nhà thì chưa cấp giấy như vậy có đúng hay không? Cũng nói thêm là mảnh đất đó không có sự tranh chấp với ai cả.

5. Mẹ tôi đã mất từ năm 2010. Tuy nhiên từ trước khi mẹ tôi mất đến bây giờ chưa được hưởng quyền lợi nào của Nhà nước, mà đã có sự xác nhận mảnh đất đó của gia đình tôi từ trước khi mẹ tôi mất thì giờ nhà tôi còn được hưởng chính sách đó không, nguyện vọng của gia đình tôi là muốn xây nhà thờ cúng liệt sỹ trên mảnh đất đó, có được không?

Tôi xin chân thành cảm ơn

Người gửi: T.B.T

Thứ nhất, về xác nhận của UBND xã năm 1992:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 100 Luật đất đai 2013 quy định:

"1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ."

Như vậy xác nhận của UBND xã trước năm 1993 là hoàn toàn hợp pháp và có thể là cơ sở để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thứ hai, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Căn cứ Điều 70 Luật đất đai 2013; Điều 8 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT quy định về hồ sơ địa chính. Bạn cần phải chuẩn bị:

- Một bộ hồ sơ bao gồm:

+ Đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Mẫu số 04/ĐK).

+ Một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai đối với trường hợp đăng ký về quyền sử dụng đất.

+ Một trong các giấy tờ quy định tại các Điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Luật Đất đai (đối với trường hợp đăng ký về quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất).

Trường hợp đăng ký về quyền sở hữu nhà ở hoặc công trình xây dựng thì phải có sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng (trừ trường hợp trong giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng đã có sơ đồ phù hợp với hiện trạng nhà ở, công trình đã xây dựng).

+ Chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính; giấy tờ liên quan đến việc miễn, giảm nghĩa vụ tài chính về đất đai, tài sản gắn liền với đất (nếu có).

+ Trường hợp có đăng ký quyền sử dụng hạn chế đối với thửa đất liền kề phải có hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận hoặc quyết định của Tòa án nhân dân về việc xác lập quyền sử dụng hạn chế thửa đất liền kề, kèm theo sơ đồ thể hiện vị trí, kích thước phần diện tích thửa đất mà người sử dụng thửa đất liền kề được quyền sử dụng hạn chế.

+ Tờ khai lệ phí trước bạ (Mẫu số 01/LPTB).

+ Tờ khai tiền sử dụng đất (Mẫu số 01/TSDĐ).

- Số lượng hồ sơ: 01 bộ

- Thời gian thực hiện: Không quá 30 (ba mươi) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, không kể thời gian thực hiện nghĩa vụ tài chính và thời gian niêm yết công khai của UBND cấp xã (15 ngày).

- Cơ quan tiếp nhận hồ sơ: Phòng Tài nguyên và môi trường của UBND cấp huyện.

- Phí, lệ phí:

+ Trường hợp chỉ có quyền sử dụng đất: 25.000đồng/giấy.

+ Trường hợp có tài sản gắn liền với đất: 100.000đồng/giấy.

- Lưu ý:

+ Đối với đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Mẫu số 04/ĐK) được ban hành kèm theo tại Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

+ Đối với tờ khai lệ phí trước bạ (Mẫu số 01/LPTB); Tờ khai tiền sử dụng đất (Mẫu số 01/TSDĐ ) được ban hành kèm theo tại Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính.

Theo đó, bạn có thể tham khảo 2 thông tư trên để có được mẫu đơn theo đúng quy định của pháp luật.

Thứ ba, về việc thu hồi đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Theo Điều 13 Nghị định 47/2014 NĐ-CP, quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất có quy định về: Bồi thường về đất cho người đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất như sau:

1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà người sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP mà đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 101 và Điều 102 của Luật Đất đai, các Điều 20, 22, 23, 25, 27 và 28 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thì được bồi thường về đất.

Như vậy trường hợp gia đình bạn đang sử dụng đất, không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nhưng đủ điều kiện cấp và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai thì vẫn được bồi thường về đất.

Thứ tư, về việc trả lời của Chủ tịch xã.

Theo quy định tại điều 99 Luật đất đai năm 2013. Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:

"a) Người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại các điều 100, 101 và 102 của Luật đất đai 2013;

b) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành;

c) Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ;

d) Người được sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành đối với tranh chấp đất đai; theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;

đ) Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất;

e) Người sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;

g) Người mua nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;

h) Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; người mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;

i) Người sử dụng đất tách thửa, hợp thửa; nhóm người sử dụng đất hoặc các thành viên hộ gia đình, hai vợ chồng, tổ chức sử dụng đất chia tách, hợp nhất quyền sử dụng đất hiện có;

k) Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất."

Như vậy gia đình bạn có thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không yêu cầu phải có nhà ở hoặc tài sản gắn liền với đất.

Thứ năm, về việc thừa kế và sử dụng đất:

Theo quyền thừa kế được quy định tại Điều 631 Bộ luật dân sự 2005, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Nếu tài sản để thừa kế là quyền sử dụng đất thì người lập di chúc bên cạnh việc phải tuân thủ các quy định của Bộ luật Dân sự về thừa kế còn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về đất đai.

Cụ thể, Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2014) cho phép người sử dụng đất được để lại thừa kế quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời thửa đất đó cũng phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Đất không có tranh chấp;

- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án;

- Trong thời hạn sử dụng đất.

Theo quy định tại Điều 6 Luật đát đai quy định:

"Nguyên tắc sử dụng đất

1. Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất.

2. Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh.

3. Người sử dụng đất thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan."

Trân trọng./.

3. Tư vấn về việc cấp sổ đỏ cho đất mua bằng giấy viết tay ?

Kính gửi Luật Minh Khuê! Mong Luật sư tư vấn cho tôi vấn đề sau: Hiện tôi đang có 02 nhà mặt đất có diện tích dưới 30m2: 1 nhà là 28.5m2, 1 nhà là 24.5m2. Cả 02 mảnh đất trên đã được hình thành và được gia đình tôi ở khoảng 10 năm nay. Tuy nhiên khởi điểm của 02 mảnh đất này là được cắt ra từ 1 mảnh đất to và bán.
Thời điểm nhà tôi mua thì 02 mảnh đất trên chưa được tách sổ, chỉ mua bán qua giấy tờ viết tay. Hiện tại gia đình tôi muốn tiến hành làm sổ đỏ cho cả 02 mảnh đất này nhưng gặp khó khăn ở chỗ chủ mảnh đất to gây khó dễ, không cho mượn sổ đỏ gốc. Gia đình tôi đã sinh sống và không xảy ra bất cứ tranh chấp gì về đất đai. Vậy có cách nào để tôi làm được sổ đỏ không?
Trân trọng!

Tư vấn về việc cấp sổ đỏ cho đất mua bằng giấy viết tay ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Hiện nay theo quy định của pháp luật thì đối với hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng chứng thực. Cụ thể được quy định như sau:

Điều 450 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội quy định:

"Điều 450. Hình thức hợp đồng mua bán nhà ở

Hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."

Khoản 1 Điều 167 Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội quy định:

"Điều 167. Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này."

Điều 122 Luật nhà ở số 65/2014/QH13 của Quốc hội quy định:

"Điều 122. Công chứng, chứng thực hợp đồng và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng về nhà ở

1. Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

Đối với các giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng.

2. Đối với trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương; mua bán, cho thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; mua bán, cho thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở phục vụ tái định cư; góp vốn bằng nhà ở mà có một bên là tổ chức; cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở thì không bắt buộc phải công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp các bên có nhu cầu.

Đối với các giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là do các bên thỏa thuận; trường hợp các bên không có thỏa thuận thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm ký kết hợp đồng.

3. Văn bản thừa kế nhà ở được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự.

4. Việc công chứng hợp đồng về nhà ở được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng; việc chứng thực hợp đồng về nhà ở được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có nhà ở."

Trong trường hợp này, việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng giấy viết tay của bạn từ khoảng cách đây 10 năm nghĩa là từ năm 2006 là không có giá trị pháp lý do vô hiệu về mặt hình thức. Chỉ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp bạn đã sử dụng đất này ổn định từ trước ngày 1/7/2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai. Còn từ sau ngày 1/7/2004 thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bắt buộc phải có công chứng, chứng thực. Như vậy việc mua nhà của bạn chỉ có giấy viết tay từ năm 2006 mà không công chứng chứng thực là trái với quy định của pháp luật do không tuân thủ về mặt hình thức. Do đó, không thể sử dụng giấy này làm căn cứ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và khi có tranh chấp thì hợp đồng sẽ bị tuyên vô hiệu do không tuân thủ về mặt hình thức. Theo quy định tại Điều 137 về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên sẽ phải hoàn trả nhau những gì đã nhận: Bên mua trả lại nhà, bên bán trả lại tiền nhà đã nhận. Bên nào có lỗi trong việc làm cho hợp đồng bị vô hiệu sẽ phải bồi thường thiệt hại cho bên kia. Để được cấp, bạn liên hệ với người chủ sử dụng đất cũ, yêu cầu họ ký lại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có công chứng sau đó thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

4. Xin cấp sổ đỏ cho đất ở sử dụng ổn định, lâu dài ?

Thưa luật sư: Tôi ở TP Huế. Tôi muốn hỏi luật sư trường hợp này: Trước năm 1986, Ông & Bà Nội cùng ba mẹ tôi ở tại số nhà 1 A Trần Nguyên Đán - phường Thuận Hòa, TP Huế (có giấy tờ đất đai chứng nhận sử hữu của ông bà Nội tôi). Năm 1986, Nhà nước có quyết định trưng thu ngôi nhà này và căn cứ quyết định này kèm theo Biên bản trưng thu và giao nhà.
Nội dung trong biên bản là trưng thu nhà 1A Trần Nguyên Đán trên và phường bố trí cho ông nội tôi về ở tại số nhà 7 Nguyễn Thiện Thuật - p. Thuận Hòa, Tp Huế. Trong biên bản này có 3 bên ký: Ông Nội tôi và Chủ tịch phường ký đóng dấu và một người đại diện của tỉnh xác nhận. Từ đó đến nay, gia đình ở tại số 7 Nguyễn Thiện Thuật đã đóng thuế đất đai đầy đủ. Năm 2013, Gia đình tôi có sửa nhà, khi lên Phường để xin phép sửa thì chủ tịch phường đồng ý và cũng khuyến khích gia đình làm thẻ đỏ. Tuy nhiên khi ba tôi trình bày với địa chính phường về vấn đề này thì anh này nói là gia đình tôi muốn làm thẻ đỏ thì phải mua lại mảnh đất hiện đang ở với 40% giá trị mảnh đất này với giá đất của nhà nước. Như vậy có đúng không thưa luật sư.
Tôi xin chân thành cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như bạn trình bày, chúng tôi có thể hiểu rằng bạn muốn hỏi hai vấn đề, thứ nhất là gia đình bạn có quyền được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ - thẻ đỏ) hay không? Nếu được cấp thì gia đình bạn có cần mua lại 40% diện tích đất không?

Điều 101 Luật đất đai năm 2013 quy định:

Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013 cũng quy định về căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định, trong đó chỉ rõ Giấy tờ về việc giao, phân, cấp nhà hoặc đất của cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao quản lý, sử dụng đất cũng có thể là căn cứ chứng minh cho việc sử dụng ổn định, mà ở đây của gia đình bạn là Biên bản trưng thu và bố trí nhà ở có ba bên ký ông nội bạn và Chủ tịch phường ký đóng dấu và một người đại diện của tỉnh xác nhận:

Điều 21. Căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định

1. Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận).

2. Thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định căn cứ vào thời gian và nội dung có liên quan đến mục đích sử dụng đất ghi trên một trong các giấy tờ sau đây:

a) Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất;

b) Biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc sử dụng đất, biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc xây dựng công trình gắn liền với đất;

c) Quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực thi hành, quyết định thi hành bản án của cơ quan Thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền với đất;

d) Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực thi hành; biên bản hòa giải tranh chấp đất đai có chữ ký của các bên và xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất;

đ) Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan đến việc sử dụng đất;

e) Giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại nhà ở gắn với đất ở; Giấy chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh, giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có ghi địa chỉ nhà ở tại thửa đất đăng ký;

g) Giấy tờ về việc giao, phân, cấp nhà hoặc đất của cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao quản lý, sử dụng đất;

h) Giấy tờ về mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về mua bán đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan;

i) Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ;

k) Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời điểm kê khai đăng ký.

3. Trường hợp thời điểm sử dụng đất thể hiện trên các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này có sự không thống nhất thì thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định theo giấy tờ có ghi ngày tháng năm sử dụng đất sớm nhất.

4. Trường hợp không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này hoặc trên giấy tờ đó không ghi rõ thời điểm xác lập giấy tờ và mục đích sử dụng đất thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về thời điểm bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử dụng đất trên cơ sở thu thập ý kiến của những người đã từng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất của người có yêu cầu xác nhận trong khu dân cư (thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố) nơi có đất.

Vậy, khi bạn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bạn phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định 45/2014/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất.

"Điều 6. Thu tiền sử dụng đất khi công nhận quyền sử dụng đất (cấp Giấy chứng nhận) cho hộ gia đình, cá nhân đối với đất đã sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất không có một trong các hành vi vi phạm theo quy định tại Điều 22 Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, nếu được cấp Giấy chứng nhận thì thu tiền sử dụng đất như sau:

a) Trường hợp đất có nhà ở thì người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích đất ở đang sử dụng trong hạn mức công nhận đất ở cho mỗi hộ gia đình, cá nhân; đối với diện tích đất ở vượt hạn mức công nhận đất ở (nếu có) thì phải nộp tiền sử dụng đất bằng 50% tiền sử dụng đất theo giá đất quy định tại Điểm b, Điểm c Khoản 3 Điều 3 Nghị định này tại thời điểm có quyết định công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

b) Trường hợp sử dụng đất có công trình xây dựng không phải là nhà ở, nếu được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp như hình thức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất với thời hạn sử dụng lâu dài thì không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất để ở mà tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất đã có một trong các hành vi vi phạm theo quy định tại Điều 22 Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, nhưng nay nếu được Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thì phải nộp 50% tiền sử dụng đất đối với diện tích đất trong hạn mức công nhận đất ở theo giá đất quy định tại Bảng giá đất; nộp 100% tiền sử dụng đất đối với diện tích đất vượt hạn mức công nhận đất ở theo giá đất quy định tại Điểm b, Điểm c Khoản 3 Điều 3 Nghị định này tại thời điểm có quyết định công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Trường hợp sử dụng đất có công trình xây dựng không phải là nhà ở, nếu được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp như hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất với thời hạn sử dụng lâu dài thì phải nộp 50% tiền sử dụng đất theo giá đất quy định tại Điểm b, Điểm c Khoản 3 Điều 3 Nghị định này của loại đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp có thời hạn sử dụng đất cao nhất quy định tại Khoản 3 Điều 126 Luật Đất đai tại thời điểm có quyết định công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền".

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

5. Tư vấn giải quyết việc cấp sổ đỏ bị nhầm tên ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi đang có một trục trặc về việc cấp sổ đỏ nhưng bị nhầm tên. Sự việc bắt đầu cách đây vài năm, khi căn nhà của tôi được xây trên đất do cha, ông để lại (xây từ năm 1988), được cấp sổ đỏ do chính sách sáp nhập về Hà Nội.

Khi tôi ra UBND xã để làm thủ tục nhận, có một vấn đề phát sinh đó là sổ đỏ đó lại đứng tên người khác trong xóm, với họ tên giống của tôi. Bên UBND xã có đưa ra một giải pháp là chuyển nhượng quyền sử dụng đất với phí chuyển nhượng do tôi chịu. Tôi tạm thời không đồng ý do nghĩ đất là của cha ông để lại, sao lại có chuyện chuyển nhượng. Vậy, xin quý Luật sư cho tôi biết giải pháp chuyển nhượng mà bên UBND xã đưa ra có đúng không? Trong trường hợp của tôi, tôi nên làm gì để giải quyết tốt nhất?

Trân trọng cảm ơn.

Tư vấn giải quyết việc cấp sổ đỏ bị nhầm tên ?

Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục hỏi đáp pháp luật của công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn chúng tôi xi được tư vấn như sau:

Theo thông tin mà bạn cung cấp thì đất nhà bạn đã có sổ đỏ nhưng trong sổ đỏ lại đứng tên người khác trong xóm, với họ tên giống của bạn.Bên UBND xã có đưa ra một giải pháp là chuyển nhượng quyền sử dụng đất với phí chuyển nhượng do bạn phải chịu.

Hiện nay theo quy định tại Điều 106 Luật đất đai 2013 quy định như sau:

Điều 106. Đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp

1. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm đính chính Giấy chứng nhận đã cấp có sai sót trong các trường hợp sau đây:

a) Có sai sót thông tin về tên gọi, giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân, địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất so với giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận của người đó;

b) Có sai sót thông tin về thửa đất, tài sản gắn liền với đất so với hồ sơ kê khai đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất đã được cơ quan đăng ký đất đai kiểm tra xác nhận.

2. Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

a) Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp;

b) Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp;

c) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

3. Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này do cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 105 của Luật này quyết định sau khi đã có kết luận của cơ quan thanh tra cùng cấp, văn bản có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai.

Như vậy việc cán bộ địa chính xã tư vấn cho bạn phải làm hợp đồngchuyển nhượng là không đúng với quy định của pháp luật. Theo khoản 4 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai có quy định:

4. Trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai tại Điểm đ Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra có văn bản kết luận Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, nếu kết luận đó là đúng thì quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp; trường hợp xem xét, xác định Giấy chứng nhận đã cấp là đúng quy định của pháp luật thì phải thông báo lại cho cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra;

b) Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì thông báo bằng văn bản cho cơ quan thanh tra cùng cấp thẩm tra; nếu kết luận là Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật thì thông báo cho người sử dụng đất biết rõ lý do; sau 30 ngày kể từ ngày gửi thông báo cho người sử dụng đất mà không có đơn khiếu nại thì ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp;

c) Trường hợp người sử dụng đất phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì gửi kiến nghị, phát hiện đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo quy định tại Điểm b Khoản này;

d) Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện việc thu hồi và quản lý Giấy chứng nhận đã thu hồi theo quyết định thu hồi Giấy chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền;

đ) Trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại.

Như vậy trọng trường hợp này vì giấy chứng nhận cấp sai nên sẽ bị thu hồi lại và gia đình bạn sẽ được cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật. Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn trực tiếp qua điện thoại gọi 1900.6162 .

Trân trọng./.

6. Đòi lại đất đã được cấp sổ đỏ ?

Năm 1978, sau thời gian dài tập kết ra Bắc, Ba tôi về quê cũ sinh sống, gia đình tôi được nhà nước cấp phần đất nông nghiệp liền kề phía sau nhà tôi để canh tác. Trong phần đất nông nghiệp có một con mương (trước kia chính quyền ngụy làm giao thông hào) diện tích khoản 50m2. Vì không có điều kiện san lấp nên ông hàng xóm, nhà đối diện có hỏi mượn để làm chuồng bò (ông ta san lấp). Khi tôi nhờ Địa chính xã kiểm tra trong tờ Bản đồ.

Địa chính thì phần đất đó được xác định trong phần đất của gia đình ông hàng xóm (Tờ bản đồ năm 1993). Sau này Nhà nước đo đạt lại và cấp CNQSD đất cho gia đình tôi (năm 2006). Trong đó phần đất mà ông hàng xóm mượn nuôi bò là phần đất vườn. Trong quá trình sinh sống, vì ô nhiễm môi trường nên gia đình hai bên phát sinh mâu thuẩn nên gia đình tôi có đòi lại phần đất mà ông ta mượn. Ông hàng xóm không trả lại với lý do ông ta có công san lấp và làm lâu năm. Tôi xin nhấn mạnh phần đất này nằm trong khuôn viên nhà tôi, còn nhà ông ta đối diện ngăn cách bởi con đường làng. Vậy tôi xin hỏi gia đình tôi có đòi lại phần đất đó được không? (phần đất đó đã được cấp CNQSDĐ), thủ tục như thế nào?

Rất mong được hồi âm, gia đình tôi xin chân thành biết ơn nhiều!

>> Luật sư tư vấn luật Đất đai gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên gia đình bạn bạn, nên mảnh đất thuộc quyền sử dụng của gia đình bạn. Việc cho ông hàng xóm mượn đất không làm thay đổi người đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.Tuy ông hàng xóm sử dụng đất ổn định lâu dài trong khoảng thời gian và có san lấp đất nhưng ông hàng xóm không có một trong các loại giấy tờ quy định tại điều 100 Luật đất đai năm 2013, mà giấy tờ đó đứng tên gia đình bạn. Cho nên, quyền sử dụng mảnh đất đó vẫn thuộc về gia đình bạn bạn.

Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

5. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Căn cứ vào điều 517 Bộ luật dân sự năm 2005 quyền của bên cho mượn tài sản như sau

Điều 517. Quyền của bên cho mượn tài sản

Bên cho mượn tài sản có các quyền sau đây:

1. Đòi lại tài sản ngay sau khi bên mượn đạt được mục đích nếu không có thoả thuận về thời hạn mượn; nếu bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản đó mặc dù bên mượn chưa đạt được mục đích, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý;…”

Thực tế ông hàng xóm đã không trả lại mảnh đất, Gia đình bạn có quyền nộp đơn khởi kiện ra Tòa để kiện đòi lại tài sản theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào các quy định ở trên, Tòa án sẽ ra quyết định yêu cầu ông hàng xóm phải trả lại mảnh đất đó cho gia đình bạn và gia đình bạn phải thanh toán cho ông hàng xóm chi phí hợp lý của việc san lấp đất trên.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Tư vấn pháp luật miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận luật sư đất đai - Công ty luật Minh Khuê