1. Quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam

Ở thời điểm năm 2002, t ổng dân s ố Việt Nam là gần 80 triệu người, trong đó trẻ em (nh ững người dưới 16 tu ổi) chi ếm 34%. Điều này cho th ấy Việt Nam là m ột trong s ố các qu ốc gia trên thế giới có kết cấu dân số trẻ cao.

Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được coi là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Minh chứng là cả bộ Hình thư thời Lý và Bộ luật Hồng Đức thời Hậu Lê đều đã có những quy định rất cụ thể và tiến bộ về vấn đề này. Kế th ừa truyền thống đó, ngay từ khi giành được độc lập, việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã được Đảng, Nhà nước Việt Nam rất quan tâm. Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em của Liên hợp quốc (vào ngày 20-02-1990). Ngay sau khi phê chuẩn Công ước, nhà nước Việt Nam đã ban hành hai đạo luật quan tr ọng là Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo d ục trẻ em và Luật phở cập giáo dục tiểu học (cùng vào năm 1991) đồng th ời s ửa đổi, b ổ sung nhiều văn bản pháp luật khác nhằm n ội luật hoá n ội dung Công ước vào hệ th ống pháp luật qu ốc gia. Thêm vào đó, Nhà nước còn xây dựng và tổ chức thực hiện các Chương trình Hành động Qu ốc gia vì trẻ em trong mỗi giai đoạn 10 năm (hiện đã hoàn thành Chương trình Hành động Quốc gia vì trẻ em th ứ hai, giai đoạn 2001-2010), cũng như lồng ghép vấn đề bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em vào nhiều chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội khác của đất nước.

Hiện tại, hệ th ống pháp luật Việt Nam có liên quan đến quyền trẻ em bao gồm hàng trăm văn bản pháp luật, trong đó nòng c ốt là Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo d ục trẻ em (m ới được s ửa đổi, b ổ sung năm 2004, sau đây g ọi tắt là Luật BV,CS&GD Trẻ em).

Dưới đây phân tích một cách khái quát khuôn khổ pháp luật về quyền trẻ em của Việt Nam.

2.Khái niệm trẻ em:

 Theo Điều 1 Luật BV,CS&GD trẻ em, trẻ em là nh ững người dưới 16 tu ổi. Nh ư vậy, độ tu ổi được coi là trẻ em trong pháp luật Việt Nam th ấp h ơn so v ới quy định trong Điều 1 CRC. Tuy nhiên, điều này không bị coi là trái với CRC vì Điều 1 Công ước này cho phép các qu ốc gia thành viên quy định độ tu ổi được coi là trẻ em th ấp h ơn 18 tu ổi. C ũng cần l ưu ý là bên cạnh khái niệm trẻ em, pháp luật Việt Nam còn có khái niệm “người ch ưa thành niên” (là nh ững người dưới 18 tu ổi, theo quy định tại Điều 18 BLDS năm 2005) và “lao động ch ưa thành niên” (là nh ững người lao động t ừ đủ 15 đến dưới 18 tu ổi, theo quy định tại Điều 119 BLL Đ), “người ch ưa thành niên phạm t ội” (là nh ững người phạm t ội khi còn dưới 18 tu ổi, theo các quy định có liên quan trong BLHS năm 1999). Nh ững quy định chung quanh các khái niệm này về cơ bản tương thích v ới các quy định có liên quan c ủa CRC.

Tuổi chịu trách nhiệm

Độ tuổi theo đó trẻ em bị coi là phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình cũng thay đổi theo thời gian, và nó được phản ánh theo cách chúng được đối xử tại các phiên toà của pháp luật. Thời La Mã, trẻ em bị coi là không có lỗi về các tội phạm, một lập trường sau này được Nhà thờ chấp nhận. Ở thế kỷ XIX, trẻ em chưa tới bảy tuổi được cho là không phải chịu trách nhiệm về tội lỗi. Trẻ em từ bảy tuổi trở lên bị coi là phải chịu trách nhiệm về hành vi. Vì thế, chúng có thể phải đối mặt với các trách nhiệm tội phạm, bị gửi tới nhà tù của người lớn, và bị trừng trị như người lớn như đánh roi, đóng dấu ô nhục hay treo cổ. Ngày nay, ở nhiều quốc gia như Canada và Hoa Kỳ, trẻ em từ 12 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm cho hành động của chúng và có thể được gởi tới trung tâm giáo dục đặc biệt giống như các trường giáo dưỡng của Việt Nam cho trẻ vị thành niên.

Những cuộc điều tra đã phát hiện ra rằng ít nhất 25 quốc gia trên thế giới không có độ tuổi quy định cho giáo dục phổ cập. Độ tuổi lao động tối thiểu và độ tuổi kết hôn tối thiểu cũng khác biệt. Ở Việt Nam độ tuổi phải tự chịu trách nghiệm cho việc mình làm là từ 12- 18 tuổi. Tại ít nhất 125 quốc gia, trẻ em trong độ tuổi 7-15 có thể bị đưa ra toà và có thể bị bỏ tù vì các hành động tội phạm. Ở một số quốc gia, trẻ em bị buộc phải tới trường cho tới khi 14 hay 15 tuổi, nhưng cũng có thể làm việc trước độ tuổi đó. Quyền tiếp cận giáo dục của trẻ em có thể bị đe doạ vì việc kết hôn sớm, lao động trẻ em và việc bỏ tù.

Tại Việt Nam trẻ em được pháp luật quy định độ tuổi dưới 16, từ 16 đến 18 là vị thành niên.

3.Các nguyên tắc về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

 Có hai nguyên tắc nền tảng chi phối hoạt động bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở Việt Nam được quy định trong các Điều 4 và 5 Luật BV,CS&GD trẻ em, đó là không phân biệt đối x ử và l ợi ích t ốt nh ất dành cho trẻ em. Đây c ũng là hai trong s ố nh ững nguyên tắc c ơ bản c ủa CRC được đề cập trong các Điều 2 và 3 c ủa Công ước này. Về nguyên tắc th ứ nh ất, Điều 4 Luật BV,CS&GD trẻ em quy định, trẻ em, không phân biệt gái, trai, con trong giá thú, con ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi, con riêng, con chung; không phân biệt dân t ộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã h ội, chính ki ến c ủa cha mẹ hoặc người giám h ộ, đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo d ục, được hưởng các quyền theo quy định c ủa pháp luật. Về nguyên tắc th ứ hai, Điều 5 Luật BV,CS&GD trẻ em khẳng định, trong m ọi hoạt động c ủa c ơ quan, t ổ ch ức, gia đình, cá nhân có liên quan đến trẻ em thì l ợi ích c ủa trẻ em phải được quan tâm hàng đầu.

4.Quyền được khai sinh và có quốc tịch của trẻ em

Tương ứng với nội dung Điều 7 CRC, Điều 11 Luật BV, CS&GD trẻ em quy định trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch. Điều này cũng nêu rõ, trẻ em ch ưa xác định được cha, mẹ, n ếu có yêu cầu thì được c ơ quan có thẩm quyền giúp đỡ để xác định cha, mẹ.

Liên quan đến v ấn đề trên, Điều 14 Nghị định s ố 36/2005/N Đ-CP ngày 17-3-2005 c ủa Chính ph ủ quy định chi ti ết thi hành m ột s ố điều c ủa Luật BV,CS&GD trẻ em xác định trách nhiệm c ủa các ch ủ thể có liên quan trong việc đăng ký khai sinh cho trẻ em – bước th ủ t ục đầu tiên và cũng là quy ết định trong việc th ực hiện quyền khai sinh và có qu ốc tịch của trẻ em. Theo Điều này, cha mẹ, người giám h ộ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em đúng th ời hạn; UBND xã, phường, thị tr ấn có trách nhiệm th ực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ em; c ơ quan dân s ố, gia đình và trẻ em các c ấp chủ trì, phối hợp với cơ quan tư pháp cùng cấp tuyên truyền, hướng dẫn, giúp đỡ cha mẹ, người giám hộ để họ khai sinh cho trẻ em đúng th ời hạn; cán bộ hộ tịch tư pháp có trách nhiệm giúp UBND xã, phường, thị trấn tiếp nhận hồ sơ, xác minh, kiểm tra, làm thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ em. Điều này cũng quy định trẻ em các h ộ nghèo không phải n ộp lệ phí đăng ký khai sinh, và ở nh ững khu vực có điều kiện đi lại khó khăn hay khu vực mà người dân còn bị chi phối bởi nh ững phong tục, tập quán lạc hậu thì cán bộ hộ tịch tư pháp phải có lịch định kỳ đến tận nhà dân để đăng ký khai sinh cho trẻ em.

Về việc xác định cha mẹ cho trẻ em, Điều 15 Nghị định s ố 36/2005/N Đ-CP quy định, Toà án là c ơ quan có thẩm quyền xác định cha mẹ cho trẻ em và trẻ em có thể yêu cầu xác định cha mẹ cho mình kể cả khi cha mẹ đã ch ết. Điều này c ũng quy định cha mẹ, người giám h ộ, c ơ quan dân s ố, gia đình, trẻ em, H ội LHPN các c ấp và các c ơ quan, tổ ch ức, cá nhân khác theo quy định c ủa pháp luật t ố t ụng dân s ự c ũng có quyền và trách nhiệm yêu cầu Tòa án xác định cha mẹ cho trẻ em.

5.Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em

Tương ứng với nội dung các Điều 8, 18, 20, 24 của CRC, Điều 12 Luật BV,CS&GD trẻ em quy định, trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển thể ch ất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức. B ổ sung cho quy định c ủa Điều 12, Điều 24 Luật BV,CS&GD trẻ em xác định cha mẹ, người giám h ộ là người chịu trách nhiệm đầu tiên v ới việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em; tuy nhiên, khi gặp khó khăn t ự mình không giải quy ết được, h ọ có thể yêu cầu và được c ơ quan, t ổ ch ức h ữu quan giúp đỡ để th ực hiện trách nhiệm c ủa mình. Điều này c ũng quy định, trong trường h ợp ly hôn hoặc các trường h ợp khác, người cha hoặc người mẹ không tr ực ti ếp nuôi con ch ưa thành niên phải có nghĩa v ụ đóng góp để nuôi dưỡng con đến tu ổi thành niên và có trách nhiệm cùng chăm sóc, giáo d ục con.

Cũng liên quan đến quyền trên, Điều 7 Luật BV,CS&GD trẻ em nghiêm c ấm cha mẹ b ỏ r ơi con, người giám h ộ b ỏ r ơi trẻ em được mình giám h ộ và việc d ụ d ỗ, lôi kéo trẻ em đi lang thang, l ợi d ụng trẻ em lang thang để tr ục l ợi. Điều 3 Nghị định s ố 36/2005/N Đ-CP c ụ thể hoá nh ững trường h ợp b ỏ r ơi trẻ em mà bị nghiêm c ấm, bao gồm: (i) Sau khi sinh con, cha mẹ b ỏ con, không chăm sóc, nuôi dưỡng; (ii) Cha mẹ, người giám h ộ để trẻ em cho người khác nuôi, cắt đứt quan hệ, không th ực hiện nghĩa vụ đóng góp nuôi dưỡng mặc dù có khả năng th ực hiện nghĩa vụ này; (iii) Cha mẹ, người giám h ộ b ỏ mặc trẻ em t ự sinh s ống, không quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo d ục khi ến trẻ em r ơi vào hoàn cảnh đặc biệt. Điều 4 Nghị định này quy định, việc d ụ d ỗ, lôi kéo trẻ em đi lang thang, l ợi d ụng trẻ em lang thang để tr ục l ợi thể hiện c ụ thể ở các hành vi nh ư: (i) Nói chuyện, vi ết, dịch, nhân bản sách, báo, tài liệu, tranh, ảnh, ghi âm, ghi hình hoặc hành vi khác nhằm d ụ d ỗ, lôi kéo trẻ em b ỏ nhà đi lang thang; (ii) Dùng tiền, vật ch ất, uy tín hoặc l ợi ích khác để d ụ d ỗ, lôi kéo trẻ em đang sinh s ống cùng v ới gia đình b ỏ nhà đi lang thang; (iii) Tập h ợp, ch ứa ch ấp trẻ em lang thang để bán vé s ố, sách, báo, tranh, ảnh, bán hàng rong hoặc các hoạt động khác nhằm m ục đích tr ục l ợi; (iv) Cha mẹ, người giám h ộ bắt trẻ em đi lang thang ki ếm s ống.

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)