1. Những vấn đề chung về phòng ngừa tội phạm

Theo Giáo trình Tội phạm học – Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, phòng ngừa tội phạm có khái niệm như sau: “Phòng ngừa tội phạm là tổng thể các biện pháp can thiệp chung và riêng áp dụng cho người phạm tội tiềm năng và nạn nhân tiềm năng, có xác định mục tiêu rõ ràng, được tiến hành bởi các thiết chế nhà nước và cộng đồng, trong đó nhấn mạnh vào cách tiếp cận vấn đề có định hướng nhằm kiểm soát hành vi không phù hợp với xã hội, những hành vi phạm tội, cũng như giải quyết những khía cạnh liên quan đến tội phạm như nỗi sợ hãi, sự rối loạn về tâm lý, mất an ninh trật tự”.

Qua những nội dung được đề cập trong khái niệm trên, có thể thấy phòng ngừa tội phạm có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, phòng ngừa tội phạm tức là tiến hành những biện pháp nhất định trong hiện tại để tội phạm không xảy ra trong tương lai.

Thứ hai, phòng ngừa tội phạm là những hành động nỗ lực của chính phủ và các cơ quan phi chính phủ.

Thứ ba, phòng ngừa tội phạm can thiệp vào cơ chế của hành vi phạm tội, loại bỏ một số hành vi phạm tội và giảm xác suất tội phạm khác xảy ra.

Thứ tư, phòng ngừa tội phạm được thể hiện thông qua kết quả của nó.

Thứ năm, phòng ngừa tội phạm được giới hạn trong các hành vi có mục đích phòng ngừa.

Về đối tượng, phòng ngừa tội phạm gồm những đối tượng sau: hành vi phạm tội, yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định phạm tội, sự sợ hãi tội phạm và sự hỗn loạn mất ổn định.

2. Khái niệm thiết chế xã hội và thiết chế gia đình

Trước tiên, thiết chế là toàn bộ các quy định chi phối một tổ chức, một đoàn thể; chỉ toàn bộ hệ thống tổ chức và hệ thống giám sát mọi hoạt động xã hội, nhờ đó mà các quan hệ xã hội kết hợp với nhau, đảm bảo cho các cộng đồng hoạt động nhịp nhàng.

Dưới góc độ xã hội học, thiết chế xã hội là một tập hợp các vị thế, vai trò có chủ đích nhằm thỏa mãn một nhu cầu xã hội nào đó quan trọng, nhìn chung, thiết chế nảy sinh và tồn tại để đáp ứng những nhu cầu cơ bản của xã hội.

Thiết chế gia đình nhìn nhận dưới nhiều góc độ như sau: Gia đình không chỉ quy định đặc điểm tâm lý cá nhân mà còn góp phần to lớn trong việc hình thành tập thể; thiết chế gia đình nhằm định hướng các vấn đề như hôn nhân và sự hình thành đời sống gia đình, những biến đổi của tổ chức gia đình và những chức năng của nó, mối quan hệ gia đình với các thiết chế xã hội khác...
 

3. Thiết chế gia đình trong phòng ngừa tội phạm tình dục

Dưới góc độ tội phạm học, có thể nói thiết chế gia đình là một trong những cách thức truyền tải phương pháp phòng ngừa tội phạm. 

Trong đó các yếu tố đóng vai trò then chốt trong sự thúc đẩy này là: Mối quan hệ của các thành viên trong gia đình, nề nếp gia đình, sức khỏe tâm thần, các biến cố như bạo hành hay bỏ rơi, lý lịch của các thành viên gia đình trong việc bạo hành hay phạm tội. Điều này có thể hiểu như sau: Quản lý và giáo dục gia đình là một quá trình liên tục và lâu dài, từ khi đứa trẻ sinh ra và lớn lên. 
Nhằm thực hiện các phương pháp phòng ngừa tội phạm dựa trên phương tiện là thiết chế gia đình có tác dụng bảo vệ trẻ em khỏi tương lai phạm pháp vào tù hoặc chống đối xã hội. Để thực hiện được chủ trương như vậy thì mỗi gia đình phải đảm bảo các phương pháp giáo dục được truyền tải tới trẻ em trong quá trình nuôi dưỡng từ khi sinh ra tới khi lớn lên. Để giải quyết vấn đề tiềm ẩn tội phạm trong gia đình thì cần thực hiện những hỗ trợ giải quyết các vấn đề xã hội cụ thể sau: (i) Hỗ trợ phụ huynh phát triển về kỹ năng nuôi dạy trẻ; (ii) Chỉ ra những thành tố tác động xấu đến trẻ như đói nghèo, bạo hành thể chất, tinh thần, sự hung bạo thiếu quan tâm đến trẻ; (iii) Hỗ trợ trẻ về mặt giáo dục, y tế, cố vấn, hỗ trợ tâm lý, tăng kỹ năng xã hội và đời sống và tìm ra sự đam mê.

4. Thực tiễn việc thực hiện thiết chế gia đình trong phòng ngừa tội phạm tình dục

Theo điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2019 do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc, cứ 3 phụ nữ thì có gần 2 phụ nữ (62,9%) từng chịu ít nhất một hình thức bạo lực thể xác, tình dục, tinh thần, kinh tế hay kiểm soát hành vi do chồng/bạn tình gây ra trong đời. Ngoài ra, cũng theo báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, thống kê từ tháng 6/2019 đến tháng 6/2021, trên cả nước có tới 4,000 trẻ em bị xâm hại, trong đó có hơn 3,600 trẻ em là nữ. Cụ thể, số trẻ bị xâm hại từ tháng 6/2019 đến tháng 6/2020 là hơn 1.700 trường hợp, còn từ tháng 6/2020 đến tháng 6/2021 là hơn 2.200 trường hợp, tăng hơn 430 trường hợp. Đối tượng xâm hại trẻ em trong 2 năm qua chủ yếu vẫn là nam giới (chiếm 95%), trong đó, hơn 3.400 đối tượng trên 18 tuổi xâm hại trẻ em , chiếm 77%, thuộc đủ các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau. Cơ quan chức năng xác định, có hơn 1.000 vụ hiếp dâm, 1500 vụ giao cấu với trẻ em. Có thể thấy, thực trạng về tội phạm tình dục đối với phụ nữ, trẻ em ngày một tăng nhiều và ở mức độ nghiêm trọng trong phạm vi cả nước. 
Trong những năm gần đây, Nước ta đã có những chương trình phối hợp giữa các cơ quan chính phủ và cơ quan phi chính phủ để tạo ra những hoạt động xuất phát từ góc độ gia đình, lấy gia đình là thiết chế bền vững nuôi dưỡng, rèn luyện nhân cách con người và bảo vệ các thành viên trước sự tấn công của các loại tội phạm và tệ nạn xã hội, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong quản lý, giáo dục con em, người thân của mình phòng ngừa tội phạm và tệ nạn xã hội. Cụ thể các chương trình trên sẽ được nhìn nhận và phân tích dưới góc độ tội phạm học trong việc thực hiện thiết chế gia đình trong phòng ngừa tội phạm.

4.1. Biện pháp giải quyết vấn đề xã hội hướng đến phụ huynh

Thứ nhất, nâng cao tri thức về phòng chống tội phạm của các bậc phụ huynh. Cần đề xuất các chương trình nhằm giúp các bậc phụ huynh hiểu về khái niệm của tội phạm, các yếu tố cấu thành tội phạm và những hậu quả mà tội phạm gây ra với xã hội, từ đó các bậc phụ huynh đã có thể trang bị những kiến thức đầy đủ để giảng dạy, truyền tải thông tin về tội phạm tới trẻ em để biết cách phòng ngừa. Các biện pháp cụ thể: Trong năm 2020 và 2021 vừa qua, trên địa bàn các địa phương, các cấp, ngành, đơn vị nói chung đã tiến hành thực hiện các công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật tới người dân, đặc biệt là việc phổ biến pháp luật tới những đối tượng yếu thế trong xã hội cũng đang ngày một được chú trọng nhiều hơn. 
Thứ hai, hỗ trợ cho các bậc phụ huynh hiểu các phương pháp giáo dục mới, hiện đại, kết hợp với những kinh nghiệm quý báu trong việc giáo dục con trẻ của dân tộc, tổ tiên để lại. Để tránh những sự việc đau lòng do tội phạm xâm hại tình dục gây nên, cha mẹ cần thường xuyên để mắt, quan tâm, chia sẻ với con em mình để nhận thấy những thay đổi tâm, sinh lý cần thiết. Bên cạnh đó, khả năng nhận thức và tự bảo vệ của trẻ em còn nhiều hạn chế nên các em chính là đối tượng có nguy cơ bị lạm dụng, xâm hại tình dục cao nhất. Vì vậy, cha mẹ cũng cần phải trang bị cho con cái biết cách thức phòng vệ trước những đối tượng có ý định thực hiện hành vi đồi bại. Cố gắng chia sẻ với con về giới tính, tình dục tuổi mới lớn. Việc giáo dục trẻ em như vậy sẽ giúp các bậc phụ huynh hiểu thêm về nội tâm của trẻ như tò mò, nhạy cảm, muốn hiểu về những điều bản thân chưa biết,... bên cạnh đó, các bậc phụ huynh cần chủ động lắng nghe ý kiến, tâm tư của trẻ, kiềm chế khi gặp phản ứng trước những căng thẳng khó kiểm soát của con. Có như vậy, cha mẹ mới có thể đưa ra những biện pháp phòng ngừa tội phạm ngay khi xuất hiện những dấu hiệu cụ thể. Các biện pháp cụ thể có thể kể đến: Các cuốn sách, cẩm nang, các diễn đàn thảo luận giúp các bậc phụ huynh phòng ngừa tội phạm tình dục như: “Các kỹ năng phòng tránh xâm hại tình dục cha mẹ cần dạy cho con - VOV; Phòng ngừa bạo lực và xâm hại tình dục đối với trẻ em - UNICEF; Cách dạy con tuổi dậy thì hiệu quả và những sai lầm cần tránh - Cleanipedia,...
Ngoài ra, hiện nay có rất nhiều các buổi tọa đàm, chương trình thực tế được tổ chức và phát sóng nhằm giúp các bậc làm cha làm mẹ có cái nhìn sâu sắc hơn về kiến thức và phương pháp nuôi dạy trẻ trong thời đại mới. 
Thứ ba, chỉ ra những thành tố tác động xấu đến trẻ em như nghèo đói, bạo hành về thể chất, sự hung bạo, thiếu quan tâm đến trẻ em. Đảm bảo được đời sống kinh tế gia đình để trẻ em có được những điều kiện sống tối thiểu như: ăn ở, mặc, sinh hoạt, học hành. Các biện pháp cụ thể: Tăng cường các biện pháp bảo vệ trẻ em trong gia đình, tăng cường công tác hòa giải mâu thuẫn trong gia đình, tuyên truyền pháp luật phòng chống bạo lực gia đình, xâm hại tình dục,... 

4.2. Biện pháp giải quyết vấn đề xã hội hướng đến trẻ em

Thứ nhất, hỗ trợ giáo dục, y tế là một trong những quyền cơ bản mà bất cứ trẻ em nào đều có, những quyền này được thể hiện rất cụ thể tại pháp luật Việt Nam cũng như đã được các công ước trên thế giới ghi nhận.Việc hỗ trợ giáo dục và y tế sẽ giúp các em dần phát triển, hình thành nhân cách cũng như có ý nghĩa trong việc phòng ngừa tội phạm tình dục
Thứ hai, tiến hành các chương trình hỗ trợ tâm lý, đây là một trong những cách thức quan trọng nhằm hạn chế những tổn thương về mặt tinh thần cho trẻ em. Cụ thể: hình thức tư vấn, tham vấn và vận động trực tiếp đối với gia đình và cộng đồng dân cư về kỹ năng bảo vệ trẻ em khỏi bị xâm hại; đường dây tư vấn và hỗ trợ trẻ em do Cụ bảo vệ, Chăm sóc trẻ em, Bộ Lao động thương binh xã hội cung cấp; tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111, thuộc  cục bảo vệ, chăm sóc trẻ em hay trung tâm tư vấn pháp luật cho người chưa thành niên - Hội Luật gia Việt Nam,...
Thứ ba, nâng cao các chương trình kỹ năng xã hội và đời sống cho trẻ giúp trẻ nâng cao ý thức về bản thân, phát triển kỹ năng sống, phát triển hành vi và quy tắc ứng xử xã hội cũng như khả năng tự bảo vệ bản thân trước như tình huống xâm hại đến bản thân. 
Tài liệu tham khảo
 Trịnh Tiến Việt - Nguyễn Khắc Hải( Đồng chủ biên)(2020),Giáo trình Tội phạm học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội.