1. Dấu hiệu nhận biết hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Đối với nhóm quyền tác giả, quyền liên quan:

Các hành vi xâm phạm nhóm quyền này được quy định cụ thể tại điều 28, điều 35 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009 (Luật SHTT).

Hiện nay một trong các hành vi diễn ra phổ biến nhất đó là Tự ý sử dụng tác phẩm mà không được sự đồng ý của tác giả hay hành vi không trả tiền nhuận bút, thù lao hay các quyền lợi khác. Có thể thấy, ở quanh các trường đại học việc tự ý sao chép và bán những sách mà chúng ta thường hay gọi là “ Giáo trình photo” với mục đích kinh doanh và không có sự đồng ý của tác giả, đây là một trong hành vi điển hình của việc xâm phạm đến quyền sở hữu trí tuệ.

Đối với nhóm quyền sở hữu công nghiệp:

- Nhãn hiệu, tên thương mại

Không khó để phát hiện hành vi xâm phạm quyền Sở hữu trí tuệ đối với Nhãn hiệu - Thương hiệu. Bạn hãy tìm hiểm một Nhãn hiệu - Thương hiệu uy tín, danh tiếng trên thị trường về một lĩnh vực nào đó thì xung quanh đó có tới hàng chục, hàng trăm nhãn hiệu, tên thương mại, lo go, nhãn mác...na ná, tương tự giống, gần giống với Nhãn hiệu - Thương hiệu uy tín, danh tiếng đó.

Hậu quả là gây nhầm lẫn cho khách hàng khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ đó nghĩ là đang sử dụng sản phẩm, dịch vụ của Nhãn hiệu - Thương hiệu uy tín, danh tiếng; gây thiệt hại về kinh tế và mất uy tín cho chủ sở hữu Nhãn hiệu - Thương hiệu uy tín, danh tiếng; còn đối tượng lợi dụng thì thu lợi mà không phải đầu tư chất xám phát triển và xây dựng thương hiệu.

Hành vi lợi dụng Nhãn hiệu - Thương hiệu danh tiếng để trục lợi là vấn nạn nhức nhối hiện nay, nó triệt tiêu động lực đầu tư cho sáng tạo, phát triển kinh tế - xã hội, giảm lòng tin, chỉ số cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia. Do vậy, pháp luật về Sở hữu trí tuệ đã quy định rất cụ thể về hành vi, chế tài xử lý nghiêm khắc đối với nhóm hành vi này, đối tượng vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

- Sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí

Theo điều 126 Luật SHTT thì các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí:

+ Sử dụng sáng chế được bảo hộ, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ hoặc kiểu dáng công nghiệp không khác biệt đáng kể với kiểu dáng đó, thiết kế bố trí được bảo hộ hoặc bất kỳ phần nào có tính nguyên gốc của thiết kế bố trí đó trong thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ mà không được phép của chủ sở hữu

+ Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mà không trả tiền đền bù theo quy định về quyền tạm thời quy định tại điều 131 của Luật SHTT.

- Đối với Chỉ dẫn địa lý

Đối với chỉ dẫn địa lý, qua nhiều vụ việc bị xâm phạm có thể nhận thấy hành vi xâm phạm thường xảy ra là việc lợi dụng danh tiếng, uy tín của chỉ dẫn địa lý để gắn lên các sản phẩm của mình và các hành vi xâm phạm được quy định cụ thể tại Khoản 3 Điều 129 Luật SHTT.

Chỉ dẫn địa lý bị xâm phạm, đồng thời sự xâm phạm hiện nay không chỉ ở trong nước mà nó còn lan rộng ra trên phạm vi toàn thế giới, do vậy nếu địa phương, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân không có biện pháp bảo vệ đối với tài sản trí tuệ của mình thì hậu quả nhận lại là rất lớn.

- Đối với bí mật kinh doanh

Có thể nói, bí mật kinh doanh là yếu tố quyết định sự sống còn của Doanh nghiệp. Việc bộc lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó hay tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người kiểm soát hợp pháp bí mật kinh doanh đó hoặc vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, xui khiến, mua chuộc, ép buộc, dụ dỗ, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập hoặc làm bộc lộ bí mật kinh doanh... (Điều 127 Luật SHTT) thì đều bị coi là xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh.

Như vậy, mỗi tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân cần phải chủ động nhận biết các hành vi xâm phạm quyền SHTT, đồng thời phải dứt khoát lên tiếng và áp dụng các biện pháp chế tài pháp lý để xử lý triệt để các hành vi xâm phạm.

2. Thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có bao gồm thiệt hại về tinh thần không?

Theo điểm b khoản 1 Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định về nguyên tắc xác định thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ như sau:

Nguyên tắc xác định thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

- Thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:

+ Thiệt hại về vật chất bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại;

+ Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng.

-  Mức độ thiệt hại được xác định trên cơ sở các tổn thất thực tế mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải chịu do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra.

Như vậy, căn cứ theo quy định nêu trên thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần, cụ thể:

- Thiệt hại về vật chất bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại.

- Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng.

3. Một số lưu ý khi  xác định thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

-Tổn thất thực tế phải có đủ các căn cứ:

+ Lợi ích vật chất hoặc tinh thần là có thực và thuộc về người bị thiệt hại: Lợi ích vật chất hoặc tinh thần là kết quả của quyền sở hữu trí tuệ và người bị thiệt hại là người có quyền hưởng lợi ích vật chất hoặc tinh thần đó.

+ Người bị thiệt hại có khả năng đạt được lợi ích nêu trên: Người bị thiệt hại có thể đạt được lợi ích vật chất hoặc tinh thần đó trong điều kiện nhất định, nếu không có hành vi xâm phạm xảy ra.

+ Có sự giảm sút hoặc mất lợi ích của người bị thiệt hại sau khi hành vi xâm phạm xảy ra so với khả năng đạt được lợi ích đó khi không có hành vi xâm phạm và hành vi xâm phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm sút, mất lợi ích đó.

Trước khi xảy ra hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, người bị thiệt hại đã có lợi ích vật chất hoặc tinh thần. Sau khi hành vi xâm phạm xảy ra người bị thiệt hại bị giảm sút hoặc mất lợi ích mà họ đạt được trước khi có hành vi xâm phạm và giữa hành vi xâm phạm và sự giảm sút, mất lợi ích đó phải có mối quan hệ nhân quả. Sự giảm sút, mất lợi ích đó là kết quả tất yếu của hành vi xâm phạm và ngược lại hành vi xâm phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm sút, mất lợi ích đó.

- Mức độ thiệt hại được xác định phù hợp với yếu tố xâm phạm quyền đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ. Việc xác định mức độ thiệt hại dựa trên chứng cứ về thiệt hại do các bên cung cấp, kể cả kết quả trưng cầu giám định và bản kê khai thiệt hại, trong đó làm rõ các căn cứ để xác định và tính toán mức thiệt hại.

Xem thêm: Căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại vật chất do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được quy định như thế nào?

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có bao gồm thiệt hại về tinh thần không? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!