1. Người lao động khi thỏa thuận nghỉ luân phiên không lương thì có đóng BHXH

Căn cứ theo quy định hướng dẫn bởi Điều 42 Quyết định 595/QĐ-BHXH năm 2017 thì có quy định rất cụ thể về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp, cấp sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế do Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành thì có quy định cụ thê về đối tượng đóng bảo hiểm xã hội. Cụ thể như sau: Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng BHXH tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng BHXH

Theo đó, thỏa thuận nghỉ luân phiên có hai trường hợp:

+ Nếu vẫn trả lương ngừng việc cho những ngày nghỉ thì vẫn đóng bảo hiểm như bình thường, vì những ngày nghỉ này người lao động có hưởng lương ở công ty (chỉ là có thể ở mức thấp hơn).

+ Nếu thỏa thuận với người lao động những ngày nghỉ này là ngày nghỉ không lương, thì NSDLĐ xem lại tổng số ngày nghỉ và không hưởng lương trong tháng, nếu từ 14 ngày trở lên thì tháng đó không phải đóng bảo hiểm.

Như vậy thì dựa theo quy định của pháp luật nếu người lao động nghỉ luân phiên và vẫn được trả lương, thì việc đóng bảo hiểm xã hội thường sẽ được thực hiện theo quy định thông thường, vì họ vẫn được xem xét là đang hoạt động và có thu nhập. Tuy nhiên, nếu ngày nghỉ không lương và tổng số ngày nghỉ vượt quá một ngưỡng nhất định (như 14 ngày trong tháng), có thể quy định là không cần đóng bảo hiểm xã hội cho những ngày đó.

2. Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc thì có đóng BHXH

Căn cứ dựa theo khoản 6 của Điều 42 Quyết định 595/QĐ- BHXH thì có quy định rất cụ thể về việc người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì có đóng bảo hiểm xã hội hay không. Cụ thể như sau:

Người lao động nghỉ việc để hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng sẽ không phải đóng Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), Bảo hiểm tai nạn lao động và Bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ), cũng như Bảo hiểm người nghèo (BNN). Thời gian nghỉ này được tính là thời gian đóng BHXH, nhưng không được tính là thời gian đóng BHTN. Cơ quan BHXH sẽ đảm nhận việc đóng Bảo hiểm y tế (BHYT) cho người lao động. Thời gian nghỉ việc để hưởng chế độ thai sản sẽ được ghi chính xác trên sổ BHXH, dựa trên mức tiền lương đóng BHXH của tháng trước khi nghỉ việc để hưởng chế độ thai sản. Trong trường hợp người lao động được nâng lương trong thời gian nghỉ, thông tin sẽ được cập nhật theo mức tiền lương mới từ thời điểm được nâng lương. Đối với những người lao động đang làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, hoặc thuộc danh mục đặc biệt do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành, hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên, thời gian nghỉ việc để hưởng chế độ thai sản sẽ được tính là thời gian làm nghề hoặc công việc đặc biệt khó khăn.

Trong trường hợp hợp đồng lao động (HĐLĐ) hết thời hạn trong thời gian người lao động nghỉ việc để hưởng chế độ thai sản, thì thời gian hưởng chế độ thai sản từ khi nghỉ việc đến khi HĐLĐ hết thời hạn sẽ được tính là thời gian đóng Bảo hiểm xã hội (BHXH). Tuy nhiên, thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản sau khi HĐLĐ hết thời hạn sẽ không được tính là thời gian đóng BHXH.

Theo quy định, thời gian hưởng chế độ thai sản của người lao động, nếu chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ), hợp đồng lao động thời vụ (HĐLV) hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi, không được tính là thời gian đóng Bảo hiểm xã hội (BHXH). Điều này giúp đảm bảo rằng người lao động vẫn có quyền lợi đầy đủ từ chế độ thai sản mà không bị ảnh hưởng bởi việc chấm dứt hợp đồng lao động.

Đối với trường hợp lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con theo quy định:

+ Thời gian hưởng chế độ thai sản từ khi nghỉ việc đến khi đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con sẽ được tính là thời gian đóng Bảo hiểm xã hội (BHXH).

+ Kể từ thời điểm đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con, lao động nữ và đơn vị sẽ phải đóng BHXH, Bảo hiểm y tế (BHYT), Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), Bảo hiểm tai nạn lao động và Bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ), cũng như Bảo hiểm người nghèo (BNN). Điều này nhằm đảm bảo rằng người lao động nữ, sau khi quay trở lại làm việc trước thời hạn nghỉ sinh con, vẫn được hưởng đầy đủ các quyền lợi từ các chế độ bảo hiểm xã hội và y tế.

Trong trường hợp người cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng, người mẹ nhờ mang thai hộ, người cha nhờ mang thai hộ, hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng hưởng chế độ thai sản mà không nghỉ việc, người lao động và đơn vị vẫn phải đóng Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm y tế (BHYT), Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), Bảo hiểm tai nạn lao động và Bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ), cũng như Bảo hiểm người nghèo (BNN). Điều này nhằm bảo vệ quyền lợi và đảm bảo an sinh xã hội cho những người tham gia quá trình nuôi dưỡng con trong những tình huống đặc biệt như trên mà không cần phải nghỉ làm.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm gì khi người lao động tham gia bảo hiểm xã hội?

Căn cứ: Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội 2014

Lập hồ sơ và cấp sổ bảo hiểm xã hội: Người sử dụng lao động phải lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ bảo hiểm xã hội.

Đóng bảo hiểm xã hội: Người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 86 và hằng tháng trích từ tiền lương của người lao động để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội.

Giới thiệu người lao động đi khám giám định: Người sử dụng lao động phải giới thiệu người lao động thuộc đối tượng quy định để đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động. Quy trình này nhằm mục đích xác định mức độ suy giảm khả năng lao động của người lao động, có thể là kết quả của một tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến khả năng làm việc của họ. Kết quả từ quá trình khám giám định sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi bảo hiểm xã hội mà người lao động được hưởng.

Phối hợp trả trợ cấp và sổ bảo hiểm xã hội: Người sử dụng lao động phải phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động.Điều này nhằm đảm bảo rằng người lao động sẽ nhận được các trợ cấp mà họ đủ điều kiện hưởng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. Cụ thể, quy trình này bao gồm việc người sử dụng lao động phải hợp tác với cơ quan bảo hiểm xã hội để đảm bảo rằng quy trình trả trợ cấp và cấp sổ bảo hiểm xã hội diễn ra đúng theo quy định, và người lao động sẽ nhận được mọi quyền lợi mà họ đủ điều kiện hưởng.

Cung cấp thông tin và tài liệu: Người sử dụng lao động phải cung cấp chính xác, đầy đủ, và kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và cơ quan bảo hiểm xã hội.

Xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội: Người sử dụng lao động phải xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật.

Niêm yết thông tin: Định kỳ 06 tháng, người sử dụng lao động phải niêm yết công khai thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động và cung cấp thông tin khi có yêu cầu từ người lao động hoặc tổ chức công đoàn.

Niêm yết thông tin hàng năm: Hằng năm, người sử dụng lao động phải niêm yết công khai thông tin đóng bảo hiểm xã hội của người lao động do cơ quan bảo hiểm xã hội cung cấp theo quy định tại khoản 7 Điều 23 của Luật này.

Vui lòng liên hệ 19006162 hoặc lienhe@luatminhkhue.vn

Tham khảo thêm: Lương tham gia bảo hiểm xã hội là gì? Cách tính tiền lương đóng BHXH