1. Điều kiện kết hôn hợp pháp
Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn: Hôn nhân là một quan hệ pháp lý và xã hội giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn.
Khi kết hôn, vợ và chồng cam kết sống chung một cuộc sống, chịu trách nhiệm và quan tâm đến nhau, cùng nhau xây dựng gia đình và chăm sóc con cái (nếu có).
Chế độ hôn nhân và gia đình:
Chế độ hôn nhân và gia đình bao gồm tất cả các quy định của pháp luật về kết hôn, ly hôn, và quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái, và các thành viên khác trong gia đình.
Nó cũng bao gồm các quy định về cấp dưỡng, xác định cha mẹ và con cái, quan hệ hôn nhân và gia đình liên quan đến yếu tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.
Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình:
Khi nam và nữ đạt đủ tuổi và tự nguyện, họ có thể kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Quy định này đảm bảo rằng việc kết hôn là sự tự nguyện và đồng ý của cả hai bên, không bị áp đặt bởi bất kỳ ai khác.
Hôn nhân giữa những người cùng giới tính không được công nhận, vì không đáp ứng chức năng của hôn nhân là duy trì nòi giống.
Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình:
Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập và thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và được tôn trọng và bảo vệ bởi pháp luật.
Điều kiện để kết hôn bao gồm đủ tuổi, sự tự nguyện, không mất năng lực hành vi dân sự và không thuộc các trường hợp cấm kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Điều kiện để kết hôn:
Đủ tuổi kết hôn: Nam từ 20 tuổi trở lên và nữ từ 18 tuổi trở lên.
Tự nguyện kết hôn: Đồng ý tự nguyện của cả nam và nữ trong việc trở thành vợ chồng.
Không bị mất năng lực hành vi dân sự: Nam và nữ phải có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.
Không thuộc các trường hợp cấm kết hôn: Gồm kết hôn giả tạo, tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn, và các trường hợp kết hôn giữa các quan hệ cấm theo quy định.
Tóm lại, hôn nhân là một quan hệ pháp lý và xã hội giữa vợ và chồng sau khi kết hôn. Chế độ hôn nhân và gia đình bao gồm các quy định về kết hôn, ly hôn, quyền và nghĩa vụ, cấp dưỡng, xác định cha mẹ và con cái, và bảo vệ chế độ này được tôn trọng và bảo vệ bởi pháp luật. Để kết hôn, nam và nữ phải đủ tuổi, đồng ý tự nguyện, không bị mất năng lực hành vi dân sự, và không thuộc các trường hợp cấm kết hôn
2. Thời điểm kết hôn như thế nào mới được coi là hôn nhân hợp pháp ?
Đăng ký kết hôn:
Việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và pháp luật về hộ tịch.
Nếu việc kết hôn không được đăng ký theo quy định, thì nó sẽ không có giá trị pháp lý.
Trường hợp vợ chồng đã ly hôn nhưng muốn tái lập quan hệ vợ chồng, họ phải đăng ký kết hôn lại.
Quy định pháp luật cũng có quy định về việc hủy đăng ký kết hôn trái pháp luật.
Thủ tục đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân cấp xã:
Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền đăng ký kết hôn trong các trường hợp sau:
Giữa công dân Việt Nam với nhau.
Giữa công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam.
Hồ sơ đăng ký kết hôn bao gồm:
Tờ khai đăng ký kết hôn (mẫu tại Thông tư 04/2020/TT-BTP), hai bên nam nữ có thể khai chung 01 tờ khai.
CMND/CCCD/Hộ chiếu Việt Nam và Sổ tạm trú (nếu có), Sổ hộ khẩu của công dân Việt Nam.
Hộ chiếu nước ngoài hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu của người nước ngoài đối với người nước ngoài.
Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đối với bên nam/nữ không cư trú tại UBND cấp xã nơi đăng ký kết hôn.
Trình tự giải quyết:
Công chức tư pháp - hộ tịch ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch sau khi nhận đủ giấy tờ và xem xét đủ điều kiện kết hôn.
Hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ hộ tịch và Giấy chứng nhận kết hôn.
Công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã để tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ.
Trường hợp cần xác minh điều kiện kết hôn của hai bên nam, nữ, thời hạn giải quyết không quá 5 ngày làm việc.
Tóm lại, Thời điểm kết hôn hợp pháp là thời điểm mà kết hôn được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu không đăng ký theo quy định, việc kết hôn sẽ không có giá trị pháp lý. Thủ tục đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân cấp xã bao gồm việc nộp hồ sơ, kiểm tra điều kiện, và sau đó công chức tư pháp - hộ tịch ghi thông tin kết hôn vào Sổ hộ tịch và trao Giấy chứng nhận kết hôn cho vợ chồng.
3. Hủy kết hôn trái pháp luật
Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
- Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại các điểm a, c và d khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình
+ Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;
+ Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
+ Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
+ Hội liên hiệp phụ nữ.
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.
Xử lý việc kết hôn trái pháp luật
- Xử lý việc kết hôn trái pháp luật được Tòa án thực hiện theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình và pháp luật về tố tụng dân sự.
- Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Quyết định của Tòa án về việc hủy kết hôn trái pháp luật hoặc công nhận quan hệ hôn nhân phải được gửi cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch; hai bên kết hôn trái pháp luật; cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
- Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình.
Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật
- Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.
- Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn.
- Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014
3. Một số ngoại lệ trong việc xác định hôn nhân hợp pháp
Công nhận nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng là hợp pháp (hôn nhân thực tế):
Trước ngày 3/1/1987, khi Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực, trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà chưa đăng ký kết hôn, pháp luật khuyến khích việc đăng ký kết hôn.
Tuy nhiên, các trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng trước ngày 3/1/1987, dù có đăng ký kết hôn hay không, vẫn được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Hôn nhân nhiều vợ nhiều chồng được công nhận là hợp pháp:
Trường hợp kết hôn trước khi Luật hôn nhân gia đình năm 1959 có hiệu lực (trước ngày 13/01/1960): Các quan hệ hôn nhân nhiều vợ, nhiều chồng được xác lập trước luật này vẫn được công nhận là hợp pháp.
Đối với miền Bắc, Luật hôn nhân gia đình năm 1959 có hiệu lực từ ngày 13/01/1960, do đó, những quan hệ hôn nhân nhiều vợ, nhiều chồng trước ngày này vẫn được công nhận là hợp pháp.
Đối với miền Nam, theo Nghị quyết 76/CP năm 1977, Luật hôn nhân gia đình năm 1959 áp dụng từ ngày 25/3/1977. Vì vậy, những quan hệ hôn nhân nhiều vợ, nhiều chồng được xác lập trước ngày này vẫn được công nhận là hợp pháp.
Đối với trường hợp bộ đội, cán bộ có vợ, chồng ở miền Nam tập kết ra miền Bắc, lấy vợ, chồng khác, theo Thông tư số 60/TATC ngày 22/2/1978 của Tòa án nhân dân tối cao, nếu người vợ hoặc người chồng ở miền Nam muốn duy trì quan hệ hôn nhân trước đây và không có quan hệ hôn nhân mới, thì công nhận cả hôn nhân mới và hôn nhân trước đây.
Tổng kết lại, pháp luật công nhận nam nữ chung sống như vợ chồng là hợp pháp, và các quy định về hôn nhân nhiều vợ nhiều chồng phụ thuộc vào thời điểm kết hôn và các luật áp dụng tại từng khu vực miền Bắc và miền Nam
Xem thêm>>>> Thủ tục đăng ký kết hôn năm 2023: Hồ sơ, điều kiện là gì ?
Liên hệ tới hotline 1900.6162. Hoặc gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc.
Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng!